Cụ thể, 02 luật mới về tiếp công dân, khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 bao gồm:
Các nội dung nổi bật tại 2 luật mới này có thể kể đến như:
**Đối với nội dung sửa đổi Luật Khiếu nại:
- Sửa đổi khái niệm "khiếu nại" (Điều 2 Luật Khiếu nại). Theo đó, khiếu nại là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Sửa quy định về hình thức khiếu nại trong trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung (Điều 8 Luật Khiếu nại): Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thực hiện theo quy định của Luật Tiếp công dân.
**Đối với nội dung sửa đổi Luật Tố cáo:
- Thẩm quyền giải quyết tố cáo của Chủ tịch UBND cấp xã (Điều 13 Luật Tố cáo). Cụ thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền sau đây: a) Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp; b) Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý trực tiếp.
- Sửa quy định về rút đơn tố cao (Điều 33 Luật Tố cáo): Người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng đơn rút tố cáo hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút tố cáo của người tố cáo khi làm việc với người giải quyết tố cáo hoặc người xác minh nội dung tố cáo.
**Đối với nội dung sửa đổi Luật Tiếp công dân:
- Bổ sung quy định về hình thức tiếp công dân (Điều 3a). Cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức tiếp công dân theo các hình thức sau đây: a) Tiếp công dân trực tiếp; b) Tiếp công dân trực tuyến. Chính phủ quy định việc tiếp công dân trực tuyến.
- Sửa quy định về nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (Điều 7 Luật Tiếp công dân): Nêu rõ họ tên, địa chỉ, số căn cước hoặc giấy chứng nhận căn cước hoặc số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu; trường hợp được người khiếu nại ủy quyền thì phải có văn bản ủy quyền hợp pháp.
**Đối với nội dung sửa đổi Luật Phòng chống tham nhũng:
- Sửa đổi quy định về tài sản, thu nhập phải kê khai (Điều 35 Luật Phòng chống tham nhũng). Tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm: a) Quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng; b) Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và tài sản khác mà mỗi loại tài sản có giá trị từ 150.000.000 đồng trở lên; c) Tài sản, tài khoản ở nước ngoài; d) Tổng thu nhập giữa 02 lần kê khai. Chính phủ quy định chi tiết tài sản, thu nhập phải kê khai, mẫu bản kê khai và việc thực hiện kê khai tài sản, thu nhập quy định tại Điều này.
- Tiêu chí đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng (Điều 17 Luật Phòng chống tham nhũng). Theo đó, các tiêu chí đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng được xác định theo các nội dung sau đây: a) Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng; b) Việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; c) Việc phát hiện tham nhũng; d) Việc xử lý tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng. Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng và trách nhiệm đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.