Căn cứ khoản 1 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động ít nhất 01 lần/năm. Riêng một số nhóm lao động được pháp luật quy định phải khám sức khỏe ít nhất 06 tháng/lần, tương đương 02 lần/năm.
Cụ thể, các nhóm người lao động được khám sức khỏe định kỳ ít nhất 02 lần/năm gồm:
- Người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
- Người lao động là người khuyết tật:
- Người lao động chưa thành niên;
- Người lao động cao tuổi.
Như vậy, có 04 nhóm người lao động nêu trên phải được khám sức khỏe định kỳ ít nhất 02 lần/năm theo khoản 1 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.
Theo khoản 1 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe định kỳ thuộc về người sử dụng lao động. Tần suất khám phải được xác định phù hợp với nhóm đối tượng người lao động theo quy định pháp luật.
Đối với người lao động thông thường, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất 01 lần/năm. Đối với 05 nhóm lao động nêu trên, tần suất khám tối thiểu là 06 tháng/lần.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã phục hồi sức khỏe và tiếp tục trở lại làm việc, trừ trường hợp đã được Hội đồng giám định y khoa khám giám định mức suy giảm khả năng lao động.
Ngoài việc tổ chức khám sức khỏe, người sử dụng lao động còn có trách nhiệm quản lý hồ sơ sức khỏe của người lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.
Đối với người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động còn phải tổ chức khám phát hiện bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 21 và Điều 22 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

Theo khoản 2 Điều 33 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với mỗi người lao động bị vi phạm, nhưng tổng mức phạt tối đa không quá 75.000.000 đồng, đối với người sử dụng lao động có hành vi không tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Tuy nhiên, cần lưu ý mức phạt từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng nêu trên là mức phạt áp dụng đối với cá nhân.
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân đối với các hành vi thuộc trường hợp áp dụng mức phạt đối với cá nhân.
Do đó, nếu doanh nghiệp (là tổ chức) không tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động thì mức phạt được áp dụng như sau:
- Từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với mỗi người lao động bị vi phạm;
- Tổng mức phạt tối đa không quá 150.000.000 đồng.
Không chỉ bị phạt tiền, doanh nghiệp vi phạm còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 11 Điều 33 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.
Cụ thể, doanh nghiệp phải buộc tổ chức khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động theo quy định.
Trường hợp người lao động đã tự thực hiện việc khám thì doanh nghiệp phải thanh toán chi phí khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động