Dưới đây là những chính sách nổi bật được ban hành trong tuần vừa qua.
Trong tuần qua, cập nhật 3 Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, điều kiện kinh doanh gồm:
Chính phủ ban hành Nghị định 169/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Trong đó có quy định mức phạt hành chính đối với vi phạm quy định về thời hạn làm thủ tục hải quan, nộp hồ sơ thuế.
Đơn cử, phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng thời hạn quy định thuộc một trong các trường hợp sau:
- Khai, nộp, xuất trình, cung cấp thông tin hồ sơ hải quan, trừ vi phạm quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6 Điều 8 Nghị định 169/2026;
- Khai sửa đổi, bổ sung khi có sự thay đổi thông tin số hiệu container hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, cảng xếp hàng, cửa khẩu xuất hàng, phương tiện vận chuyển hàng hóa xuất khẩu;
-Tái xuất phương tiện vận tải của cá nhân, tổ chức qua lại khu vực cửa khẩu để giao, nhận hàng hóa;
- Khai bổ sung về trị giá hải quan quá thời hạn quy định đối với trường hợp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu chưa có giá chính thức, hàng hóa có khoản thực thanh toán, hàng hóa có các khoản điều chỉnh cộng vào trị giá hải quan chưa xác định được tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.
Xem chi tiết tại Nghị định 169/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Nội dung chính sách được quy định tại Nghị định 168/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Dân số.
Cụ thể, mức hỗ trợ tài chính tối thiểu là 2 triệu đồng/phụ nữ khi sinh con thuộc các trường hợp sau:
(1) Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người;
(2) Phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế;
(3) Phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi.
Phụ nữ khi sinh con đồng thời thuộc các trường hợp (1), (2) và (3) nêu trên thì được hưởng một mức hỗ trợ.
Nghị định 168/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, riêng chính sách hỗ trợ tại khoản (2) và (3) nêu trên có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.
Chính phủ ban hành Nghị định 164/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Trong đó, quy định tài sản, thu nhập phải kê khai, mẫu bản kê khai và việc thực hiện kê khai tài sản, thu nhập như sau:
(1) Tài sản, thu nhập phải kê khai là tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, vợ (chồng) và con chưa thành niên của người có nghĩa vụ kê khai bao gồm:
- Quyền sử dụng đất;
- Nhà ở, công trình xây dựng;
- Tài sản khác gắn liền với đất;
- Vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác mà mỗi loại có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
- Tiền (tiền Việt Nam, ngoại tệ) gồm tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam mà tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên;
- Cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp, các loại giấy tờ có giá khác mà tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
- Tài sản số, tài sản khác mà mỗi loại có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
- Các khoản nợ có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
- Tài sản ở nước ngoài;
- Tài khoản ở nước ngoài;
- Tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.
(2) Việc kê khai lần đầu, kê khai hằng năm, kê khai bổ sung, kê khai phục vụ công tác cán bộ được thực hiện theo mẫu bản kê khai được ban hành kèm theo Nghị định 164/2026.
(3) Việc kê khai trên môi trường điện tử để bảo đảm thuận lợi cho việc lưu trữ, kiểm soát tài sản, thu nhập khi điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ được đáp ứng.
Xem thêm tại Nghị định 164/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Ngày 15/5/2026, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành hướng dẫn Nghị định 337/2025/NĐ-CP quy định về hợp đồng lao động điện tử.
Trong đó quy định nguyên tắc cấp mã định danh hợp đồng lao động điện tử như sau:
- Mỗi hợp đồng lao động điện tử khi được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử nếu đảm bảo quy định sẽ được cấp một ID duy nhất và không trùng lặp với bất kỳ hợp đồng lao động điện tử nào khác.
- ID được cấp một lần, không thay đổi cả trong trường hợp hợp đồng lao động điện tử được sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hoặc chấm dứt. Phụ lục, thông báo tạm hoãn, thông báo chấm dứt hợp đồng lao động điện tử được gắn ID của hợp đồng lao động điện tử đó.
- Cơ quan nhà nước dùng ID làm mã quản lý dữ liệu số về hợp đồng lao động điện tử. Việc cấp ID đối với hợp đồng lao động điện tử không làm thay đổi thời điểm giao kết, nội dung, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng lao động điện tử đã được các bên giao kết.
- ID được liên kết với các mã hiển thị hoặc mã tra cứu (theo mã số đơn vị hành chính, mã định danh người lao động, mã số thuế của người sử dụng lao động) do Nền tảng hợp đồng lao động điện tử xây dựng phục vụ nhu cầu khai thác dữ liệu nhưng các mã này không thay thế cho ID.
Xem thêm tại Thông tư 08/2026/TT-BNV có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.