
Luật sư công gồm những ai? Tiêu chuẩn luật sư công là gì theo Kết luận 23-KL/TW? (Hình từ Internet)
Ngày 07/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Kết luận 23-KL/TW về Đề án "Nghiên cứu xây dựng chế định luật sư công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay".
Theo đó, tại phiên họp ngày 27/3/2026 thì Bộ Chính trị đã có Kết luận 23-KL/TW năm 2026 thống nhất chủ trương thông về chế định luật sư công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Trong đó có kết luận cụ thể về Luật sư công gồm những ai và tiêu chuẩn luật sư công với nội dung cụ như sau:
(1) Luật sư công gồm những ai?
Theo mục 2 Kết luận 23-KL/TW năm 2026 thì luật sư công là cán bộ công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, thực hiện các hoạt động có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị Việt Nam. Luật sư công không bao gồm các viên chức đang thực hiện trợ giúp pháp lý.
Luật sư công có quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, doanh nghiệp nhà nước và quyền, nghĩa vụ của luật sư công, tuân thủ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư theo quy định của pháp luật.
(2) Tiêu chuẩn luật sư công là gì?
Luật sư công phải đáp ứng tiêu chuẩn của cán bộ công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước và tiêu chuẩn của luật sư theo quy định của Luật Luật sư 2006 (sửa đổi 2012).
“Điều 10. Tiêu chuẩn luật sư
Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.”
Đồng thời có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm trong hoạt động tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ việc pháp lý phức tạp; có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính.
(Theo mục 3 Kết luận 23-KL/TW năm 2026)
Theo đó, pháp luật Việt Nam đã nghiêm cấm luật sư thực hiện các hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Luật sư 2006 (sửa đổi 2012), bao gồm:
- Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ, việc);
- Cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật;
- Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;
- Sách nhiễu, lừa dối khách hàng;
- Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;
- Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ công chức, viên chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;
- Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho các khách hàng thuộc đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; từ chối vụ, việc đã đảm nhận theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý, của các cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc theo quy định của pháp luật;
- Có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng;
- Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác.
Trên đây là bài viết có nội dung về “Luật sư công gồm những ai? Tiêu chuẩn luật sư công là gì theo Kết luận 23-KL/TW?”
Xem thêm tại Kết luận 23-KL/TW về chế định luật sư công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ban hành ngày 07/4/2026.