
Công văn 15354 hướng dẫn vướng mắc ghi nhãn hàng hóa nhập khẩu mới nhất (Hình ảnh từ Internet)
Ngày 16/4/2026, Cục Hải quan đã ban hành Công văn 15354/CHQ-GSQL về việc vướng mắc ghi nhãn hàng hóa nhập khẩu.
Trả lời Công văn 01/2026/UVI/PL về vướng mắc liên quan đến vị trí thể hiện Tên hàng hóa và có ký hiệu
trên bao bì trên nhãn hàng hóa nhập khẩu, Cục Hải quan có ý kiến như sau:
(1) Về vị trí của nhãn hàng hóa:
Khoản 1 Điều 36 Nghị định 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026 của Chính phủ quy định:
"1. Nhận hàng hóa phải được thể hiện trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa ở vị trí khi quan sát có thể nhận biết được dễ dàng, đầy đủ các nội dung quy định của những mà không phải tháo rớt các chi tiết, các phần của hàng
2. Những nội dung bắt buộc phải ghi trên nhãn hàng hóa không cần thế hiện tập trung trên nhãn, có thể được ghi trên vị trí khác của hàng hóa, bảo đảm khi quan sát có thể nhận biết được dễ dàng, đầy đủ mà không phải tháo rời các chi tiết, các phần của hàng hóa. Những nội dung bắt buộc đó là một phần của nhãn hàng hóa.
3. Đối với các hàng hóa đặc thù như tranh, tượng, đồ gốm sứ nghệ thuật, điêu khắc, nhân hàng hỏa không thể hiện được ở vị trí dễ quan sát trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa những hàng hóa, thì nhãn hàng hóa được thể hiện trên thẻ rồi đi kèm hàng hóa, mặt sau hoặc mặt dưới của hàng hóa"
(2) Về ký hiệu 8 trên bao bì trên nhãn hàng hóa nhập khẩu:
Điều 7 Thông tư 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/6/2015, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5 Điều 1 Thông tư 06/2024/TT-BKHCN ngày 30/9/2024 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định:
"Điều 7. Hành vi vi phạm quy định về chỉ dẫn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 6 Nghị định 99/2013/NĐ-CP:
1. Hành vi chỉ dẫn sai về tình trạng pháp lý quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được hiểu là việc cung cấp thông tin chỉ dẫn gây hiểu sai lệch rằng đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam mặc dù không được hoặc chưa được bảo hỏ, kể cả trường hợp đối tượng đó đã nộp đơn đăng ký nhưng chưa được cấp văn bằng bảo hộ hoặc văn bằng bảo hộ đã bị hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực hoặc hết thời hạn bảo hộ tại thời điểm thực hiện việc chỉ dẫn lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, bao gồm:
a) Gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh chỉ dẫn gây hiểu sai lệch về việc hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp như: “nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ độc quyền", “nhãn hiệu được bảo hộ”, “nhãn hiệu thuộc độc quyền của..." hoặc chỉ dẫn có ý nghĩa tương tự, kể cả việc sử dụng ký hiệu
(chỉ dẫn về việc nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam).
Trường hợp trên hàng hóa, bao bì hàng hóa sử dụng ký hiệu mà trên hàng hóa, bao bì hàng hóa (bao gồm nhãn phụ đối với hàng hóa nhập khẩu) có chỉ dẫn thông tin trung thực về tình trạng bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam thì không bị coi là hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 Nghị định 99/2013/NĐ-CP".
Đề nghị căn cứ các quy định trên, đối chiếu với thực tế hàng hóa nhập khẩu để thực hiện theo đúng quy định.
Xem thêm Công văn 15354/CHQ-GSQL ban hành ngày 16/4/2026.