
Đề xuất hướng dẫn cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư mới nhất 2026 (Hình từ internet)
Bộ Tư pháp đã đăng tải Hồ sơ tài liệu thẩm định dự án Luật Luật sư (sửa đổi), trong đó có dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Luật sư 2026 (sau đây gọi tắt là Dự thảo nghị định). Căn cứ tại Điều 14 Dự thảo nghị định có đề xuẩ về việc hướng dẫn cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư mới nhất 2026 chi tiết như sau:
- Trong trường hợp Chứng chỉ hành nghề luật sư bị mất, bị rách, bị cháy hoặc thông tin trên Chứng chỉ hành nghề luật sư bị thay đổi thì được cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật Luật sư.
Người đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư nộp hồ sơ đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư cho Sở Tư pháp nơi người đó thường trú để chuyển Bộ Tư pháp xem xét, giải quyết. Hồ sơ gồm có: Đơn đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư theo mẫu do Bộ Tư pháp ban hành, kèm theo giấy tờ chứng minh về lý do cấp lại (nếu có).
- Người đã bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư quy định tại các điểm a, b, c, i và k khoản 3 Điều 11 của Luật Luật sư được xem xét cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn luật sư quy định tại Luật này và lý do bị thu hồi Chứng chỉ không còn.
- Người đã bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư quy định tại điểm d khoản 3 Điều 11 của Luật Luật sư được xem xét cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư khi có đề nghị cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư.
- Người đã bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư quy định tại các điểm đ,e và g khoản 3 Điều 11 của Luật Luật sư thì được xem xét cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư khi có đủ tiêu chuẩn luật sư và thuộc một trong các điều kiện sau đây:
+ Sau thời hạn ba năm, kể từ ngày có quyết định thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư do bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xoá tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn Luật sư;
+ Thời hạn tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư đã hết hoặc đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc;
+ Đã được xóa án tích trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 14 Dự thảo nghị định.
- Người bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư do đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý thì không được cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư.
Căn cứ tại Điều 8 Dự thảo nghị định có quy định về việc đề xuất miễn giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư như sau:
- Những người sau đây được miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư:
+ Người thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 Dự thảo nghị định và trợ giúp viên pháp lý hạng I từ 05 năm trở lên được miễn tập sự hành nghề luật sư;
+ Người thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 Dự thảo nghị định và trợ giúp viên pháp lý hạng II từ 10 năm trở lên được giảm 06 tháng tập sự hành nghề luật sư.
- Người đã bị xử lý hình sự hoặc xử lý kỷ luật đến mức bị cách chức chức danh thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, kiểm tra viên, thẩm tra viên; tước danh hiệu công an nhân dân, tước quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân; tước học hàm, học vị giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật hoặc đã bị thu hồi quyết định bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp, chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật thì không được miễn, giảm thời gian đào tạo nghề luật sư, miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Luật sư.
Căn cứ Điều 10 Luật Luật sư 2006 có quy định cụ thể về tiêu chuẩn luật sư là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.