
Dự thảo Luật sửa đổi Luật Hải quan (bản dự thảo lần 2) như thế nào?
Theo Nghị quyết 123/2026/UBTVQH15, Dự thảo Luật sửa đổi Luật Hải quan (bản dự thảo lần 2) được trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026).
Tuy nhiên, Chính phủ đã có Công văn số 326/CP-PL ngày 09/6/2026 gửi UBTVQH về dự kiến các dự án Luật, nghị quyết do Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp không thường lệ.
Phạm vi sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan tập trung sửa đổi một số điều về tên gọi, chức danh; thủ tục hải quan; khu, kho; quản lý rủi ro; kiểm tra sau thông quan; tạm dừng đối với hàng hóa xâm phạm sở hữu trí tuệ;... Đối tượng áp dụng giữ nguyên như quy định tại Điều 2 Luật Hải quan số 54/2014/QH13.
Dự thảo Luật sửa đổi Luật Hải quan (bản dự thảo lần 2) gồm 04 Điều, cụ thể như sau: Điều 1 (Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan); Điều 2 (Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của các luật có liên quan); Điều 3 (Điều khoản thi hành); Điều 4 (Điều khoản chuyển tiếp).
Về các nội dung sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Dự thảo Luật sửa đổi Luật Hải quan (bản dự thảo lần 2):
- Sửa đổi, bổ sung 15 điều (Điều 13, 14, 22, 35, 44, 46, 57, 79, 81, 84, 90, 94, 97, 98, 99) để phù hợp với chức danh, tên gọi, chức năng, nhiệm vụ theo mô hình tổ chức bộ máy mới sau sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.
- Sửa đổi, bổ sung khái niệm “kho ngoại quan” tại khoản 10 Điều 4.
- Sửa đổi, bổ sung khái niệm “người khai hải quan” tại khoản 14 Điều 4 theo hướng bổ sung một số chủ thể là người khai hải quan để phù hợp với hoạt động thương mại hiện nay và quy định của Luật Thương mại điện tử, Luật Quản lý thuế.
- Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 22 theo hướng bổ sung trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi quy hoạch, thiết kế xây dựng liên quan đến khu thương mại tự do, Chính phủ quy định chi tiết về địa điểm làm thủ tục hải quan.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 26 theo hướng mã số hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, theo điều kiện, Danh mục hàng thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành đảm bảo thống nhất về mã số hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam không phụ thuộc vào thẩm quyền ban hành danh mục và Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
- Về khai bổ sung tại khoản 4 và khoản 7 Điều 29, sửa đổi theo hướng: bổ sung thời điểm để xác định thời hạn khai bổ sung (trước thời điểm dừng đưa hàng qua khu vực giám sát); đối với trường hợp khai bổ sung quá thời hạn hoặc khai bổ sung theo yêu cầu của cơ quan hải quan thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật. Bổ sung các trường hợp khai bổ sung khác. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết Điều này.
- Sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 33 theo hướng phân cấp cho thủ trưởng cơ quan hải quan nơi xử lý hồ sơ hải quan quyết định các trường hợp đặc biệt khác được miễn kiểm tra thực tế hàng hóa.
- Bổ sung Điều 52 nội dung giao Bộ Tài chính quy định chi tiết về thủ tục hải quan, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh.
- Sửa đổi, bổ sung Điều 58 theo hướng quy định doanh nghiệp kinh doanh kho bãi cảng chịu trách nhiệm thực hiện việc tiêu hủy đối với hàng hóa gây ô nhiễm môi trường trong trường hợp không xác định được chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải hoặc người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền. Cơ quan Hải quan chủ trì thực hiện giám sát việc tiêu hủy.
- Bổ sung vào Điều 61 dự thảo Luật nội dung tại khoản 2 Điều 47 Luật hiện hành về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa bán tại cửa hàng miễn thuế.
- Bổ sung vào Điều 62 quy định địa điểm thành lập kho ngoại quan, địa điểm thu gom hàng lẻ, địa điểm tập kết, kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại khu thương mại tự do, trung tâm logistics, khu công nghệ số tập trung, cụm công nghiệp. Đồng thời, bổ sung quy định về địa điểm kinh doanh hàng hóa miễn thuế, giao Chính phủ quy định chi tiết.
- Bổ sung khoản 3, 4, 5 Điều 63 về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh hàng miễn thuế.
- Bổ sung quy định hàng hóa trung chuyển là hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan tại khoản 1 Điều 64.
- Bổ sung quy định cơ quan hải quan cơ quan hải quan chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan nếu trong quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát và kiểm soát phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa quá cảnh là hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ. Bỏ quy định “không áp dụng việc tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa quá cảnh” tại Điều 73.
- Sửa đổi, bổ sung Điều 74 theo hướng quy định: chủ thể quyền sở hữu trí tuệ trực tiếp hoặc thông qua người được ủy quyền hợp pháp nộp hồ sơ đề nghị kiểm tra, giám sát đối với hàng hóa liên quan đến sở hữu trí tuệ tại Hải quan khu vực nơi thuận tiện.
- Về quy định kiểm tra sau thông quan (tại Điều 77, 79, 80 và khoản 1 Điều 81, khoản 5 Điều 82): Bổ sung nguyên tắc kiểm tra sau thông quan được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ và ứng dụng công nghệ số; hợp nhất thủ tục kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan và kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp; sửa đổi thời hạn kiểm tra sau thông quan và gia hạn thời hạn kiểm tra sau thông quan từ “10 ngày làm việc” thành “tối đa là 20 ngày”; quy định về nguyên tắc thực hiện kiểm tra sau thông quan và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 84 về trách nhiệm của cơ quan hải quan trong tổ chức thu thuế và các khoản thu khác để đảm bảo thống nhất với quy định nội dung quản lý thuế tại khoản 2 Điều 5 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15.
- Sửa quy định về trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu tại khoản 2 Điều 86 theo hướng: “2. Trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán thực tế của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất khẩu, không bao gồm chi phí vận tải quốc tế và chi phí bảo hiểm quốc tế (nếu có).”.
- Sửa đổi, bổ sung Điều 104 cho phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 87/2025/QH15.
Nếu được Quốc hội thông qua, Luật sửa đổi Luật Hải quan sẽ có hiệu lực từ ngày 01/3/2027.
Xem chi tiết tại Dự thảo Luật sửa đổi Luật Hải quan (bản dự thảo lần 2).