Chính sách mới 27/08/2026 22:30 PM

Phân phối lợi nhuận đối với tổ chức tín dụng là hợp tác xã ra sao?

Tham vấn bởi Luật sư Phạm Thanh Hữu
27/08/2026 22:30 PM

Theo Nghị định mới của Chính phủ, phân phối lợi nhuận đối với tổ chức tín dụng là hợp tác xã ra sao?

Phân phối lợi nhuận đối với tổ chức tín dụng là hợp tác xã ra sao? (Hình từ internet)

Ngày 11/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 316/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 135/2025/NĐ-CP về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và tổ chức tín dụng có vốn nhà nước. 

1. Phân phối lợi nhuận đối với tổ chức tín dụng là hợp tác xã ra sao?

Phần lợi nhuận còn lại của tổ chức tín dụng là hợp tác xã sau khi bù đắp lỗ năm trước theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được phân phối theo thứ tự như sau:

- Trích 10% lợi nhuận sau thuế vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, mức tối đa của quỹ này không vượt quá mức vốn điều lệ của tổ chức tín dụng.

- Trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính; mức tối đa của quỹ này không vượt quá 25% mức vốn điều lệ của tổ chức tín dụng.

- Trích không quá 40% vào quỹ đầu tư phát triển, đảm bảo trích không quá 50% vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ đầu tư phát triển theo quy định tại Điều 25 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Mức tối đa của quỹ đầu tư phát triển không vượt quá mức vốn điều lệ của tổ chức tín dụng. 

- Phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ các khoản nêu trên được phân phối như sau:

+ Đối với ngân hàng hợp tác xã:

Ngân hàng hợp tác xã được trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi cho người lao động, người quản lý ngân hàng hợp tác xã, kiểm soát viên theo nguyên tắc tương tự như tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Tối thiểu trước 30 ngày tổ chức Đại hội thành viên, người đại diện phần vốn nhà nước tại ngân hàng xin ý kiến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo về việc phân chia phần lợi nhuận còn lại trước khi biểu quyết tại Đại hội thành viên.

Trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lấy ý kiến thống nhất với Bộ Tài chính việc phân chia phần lợi nhuận còn lại để chỉ đạo người đại diện phần vốn nhà nước tại ngân hàng biểu quyết tại Đại hội thành viên.

Trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, Bộ Tài chính có ý kiến chính thức bằng văn bản gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Đối với phần lợi nhuận chia cho thành viên là Nhà nước, ngân hàng hợp tác xã được sử dụng để bổ sung vốn điều lệ (phần vốn hỗ trợ của Nhà nước). Thẩm quyền, trình tự, thủ tục đầu tư, hỗ trợ vốn nhà nước tại ngân hàng hợp tác xã được thực hiện theo quy định tại Điều 28 Nghị định 135/2025/NĐ-CP đối với tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ.

- Đối với quỹ tín dụng nhân dân: việc phân phối phần lợi nhuận còn lại thực hiện theo quy định của Luật Hợp tác xã và Điều lệ của quỹ tín dụng nhân dân.

(Điều 24 Nghị định 135/2025/NĐ-CP được sửa đổi tại Nghị định 316/2026/NĐ-CP)

2. Phân phối lợi nhuận đối với tổ chức tài chính vi mô 

Phần lợi nhuận còn lại của tổ chức tài chính vi mô sau khi bù đắp lỗ năm trước theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được phân phối theo thứ tự như sau:

- Bù đắp khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.

- Trích 10% lợi nhuận sau thuế vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, mức tối đa của quỹ này không vượt quá mức vốn điều lệ của tổ chức tài chính vi mô.

- Phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ các khoản nêu trên được trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính; mức tối đa của quỹ này không vượt quá 25% mức vốn điều lệ của tổ chức tài chính vi mô.

- Đối với tổ chức tài chính vi mô do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và tổ chức tài chính vi mô do Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ, phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ các khoản nêu trên thực hiện phân phối như sau:

- Trích không quá 40% vào quỹ đầu tư phát triển, đảm bảo trích không quá 50% vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ đầu tư phát triển theo quy định tại Điều 25 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Mức tối đa của quỹ đầu tư phát triển không vượt quá mức vốn điều lệ của tổ chức tài chính vi mô.

- Cơ quan đại diện chủ sở hữu của tổ chức tài chính vi mô căn cứ quy định về đánh giá xếp loại đối với tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ để thực hiện việc rà soát kế hoạch tài chính, giao chỉ tiêu đánh giá, xếp loại và thực hiện đánh giá xếp loại cho tổ chức tài chính vi mô. Căn cứ kết quả đánh giá xếp loại, tổ chức tài chính vi mô thực hiện phân phối phần lợi nhuận còn lại theo quy định đối với tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

(Điều 25 Nghị định 135/2025/NĐ-CP được sửa đổi tại Nghị định 316/2026/NĐ-CP)

 

Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@thuvienphapluat.vn.

Gởi câu hỏi Chia sẻ bài viết lên facebook 86

Bài viết về

lĩnh vực Tiền tệ - Ngân hàng

Chính sách khác

Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn