
Dự thảo Thông tư chuẩn đào tạo các chức danh tư pháp và bổ trợ tư pháp thuộc quản lý của Bộ Tư pháp ra sao? (Hình từ văn bản)
Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định chuẩn đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp (sau đây gọi tắt là dự thảo Thông tư).
![]() |
Dự thảo Thông tư |
Dự thảo Thông tư đề xuất quy định về chuẩn đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp bao gồm: các yêu cầu về chương trình đào tạo, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, phương pháp giảng dạy, giảng viên, học liệu, tuyển sinh, tổ chức đào tạo, quản lý học viên, bộ máy, quản trị và cơ sở vật chất để đảm bảo chất lượng đào tạo.
Dự thảo Thông tư áp dụng đối với các cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Chuẩn đầu vào và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp theo dự thảo Thông tư như sau:
* Chuẩn đầu vào của chương trình đào tạo
- Người dự tuyển vào chương trình đào tạo phải tốt nghiệp đại học ngành luật trở lên hoặc ngành khác mà pháp luật quy định đối với từng chương trình đào tạo tại thời điểm tuyển sinh. Trường hợp văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp thì phải được công nhận theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Người dự tuyển phải đáp ứng các điều kiện khác (như kinh nghiệm, trình độ ngoại ngữ nếu có) theo quy định của pháp luật đối với từng chương trình đào tạo tương ứng.
* Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo
Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo được xây dựng bám sát các yêu cầu về phẩm chất và năng lực của Khung trình độ quốc gia Việt Nam (Bậc 7 đối với chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù), thể hiện các yêu cầu năng lực thực tế mang tính định tính nhưng đo lường được, bao gồm:
- Về kiến thức:
+ Hệ thống hóa và vận dụng được các quy định pháp luật cốt lõi, pháp luật tố tụng chuyên ngành và quy trình nghiệp vụ tư pháp liên quan đến chức danh được đào tạo.
+ Áp dụng được các kiến thức về quản trị văn phòng nghiệp vụ, kỹ năng nhận diện và quản trị rủi ro nghề nghiệp trong thực tiễn hành nghề.
+ Hiểu rõ và cam kết tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực ứng xử chuyên biệt của từng chức danh.
- Về kỹ năng:
+ Kỹ năng chuyên môn: Thực hiện được kỹ năng quản trị hồ sơ vụ việc; kỹ năng nhận diện, đánh giá chứng cứ và kỹ năng tư duy phản biện để giải quyết các tình huống nghiệp vụ thực tiễn.
+ Kỹ năng số: Khai thác và sử dụng thành thạo các hệ thống dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu pháp luật chuyên ngành, các nền tảng công nghệ pháp lý chuyên dùng phục vụ hoạt động hành nghề.
+ Kỹ năng mềm: Sử dụng hiệu quả các kỹ năng giao tiếp nghiệp vụ; làm việc nhóm; kỹ năng đàm phán, hòa giải và giải quyết xung đột dưới áp lực công việc cao.
- Mức độ tự chủ và trách nhiệm:
+ Chủ động, độc lập đưa ra các quyết định chuyên môn và tự chịu trách nhiệm pháp lý trong phạm vi thẩm quyền được giao hoặc quy định hành nghề chuyên ngành.
+ Có khả năng làm việc trước áp lực công việc cao; thích ứng linh hoạt với sự thay đổi liên tục của môi trường pháp lý số.
+ Tuân thủ trách nhiệm bảo mật thông tin khách hàng, bí mật nhà nước; thực hiện trách nhiệm tự học, cập nhật kiến thức pháp luật và thực tiễn để nâng cao năng lực hành nghề thường xuyên.
- Chuẩn đầu ra tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 6 dự thảo Thông tư là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền phê duyệt chương trình khung đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp. Cơ sở đào tạo cụ thể hóa các yêu cầu năng lực tại Điều 6 dự thảo Thông tư thành các chỉ số đo lường năng lực định lượng chi tiết trong từng chương trình đào tạo phù hợp với thực tiễn tổ chức đào tạo.
Xem thêm tại dự thảo Thông tư quy định chuẩn đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp.