
Theo khoản 2 Điều 48 Luật Chuyển đổi số 2025 quy định:
Chứng chỉ công nghệ thông tin, chứng chỉ ứng dụng công nghệ thông tin đã được cấp theo Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan tiếp tục có hiệu lực cho đến khi hết thời hạn ghi trên chứng chỉ.
Như vậy, việc Luật Công nghệ thông tin 2006 hết hiệu lực từ ngày 01/7/2026 không đồng nghĩa với việc các chứng chỉ ứng dụng CNTT đã được cấp trước thời điểm này đồng loạt mất giá trị.
Luật Chuyển đổi số 2025 không quy định một loại “chứng chỉ ứng dụng CNTT mới” để thay thế ngay chứng chỉ ứng dụng CNTT được cấp theo Luật Công nghệ thông tin 2006.
Thay vào đó, Luật Chuyển đổi số 2025 chuyển trọng tâm sang khái niệm “năng lực số”.
Theo khoản 17 Điều 3 Luật Chuyển đổi số 2025, năng lực số là tập hợp kiến thức, kỹ năng sử dụng công nghệ số để tham gia an toàn, hiệu quả, có trách nhiệm vào các hoạt động trên môi trường số.
Còn nhân lực số là lực lượng lao động trong mọi ngành, lĩnh vực có năng lực số để tham gia hoạt động chuyển đổi số.
Tại Điều 17 Luật Chuyển đổi số 2025 quy định năng lực số là nội dung bắt buộc trong các chương trình giáo dục, đào tạo; đồng thời cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số có trách nhiệm ban hành, cập nhật Khung năng lực số làm cơ sở cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá nguồn nhân lực số.
Điều 17. Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực số
1. Năng lực số là nội dung bắt buộc trong các chương trình giáo dục, đào tạo theo quy định của pháp luật về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
2. Cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số ban hành, cập nhật Khung năng lực số làm cơ sở cho các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, phân tích, tổng hợp thông tin về nguồn nhân lực số.
3. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức phổ cập năng lực số cơ bản phù hợp với Khung năng lực số cho các đối tượng phù hợp với ngành, lĩnh vực, địa bàn được phân công.
4. Cơ quan trong hệ thống chính trị có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng năng lực số theo Khung năng lực số, bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức có đủ năng lực số cần thiết để triển khai chuyển đổi số.
5. Doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, phổ cập năng lực số cơ bản cho người lao động; đào tạo, hướng dẫn chuyển đổi nghề nghiệp, nâng cao năng lực số phù hợp nhu cầu thị trường cho người lao động có nguy cơ mất việc làm do chuyển đổi số.
Quyền con người, quyền công dân trên môi trường số được quy định thế nào?
Điều 41 Luật Chuyển đổi số 2025 quy định về quyền con người, quyền công dân trên môi trường số như sau:
1. Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và không bị phủ nhận chỉ vì được thực hiện trên môi trường số.
2. Đăng ký, sử dụng và quản lý tài khoản danh tính điện tử, tài khoản giao dịch điện tử, chữ ký số theo quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử, giao dịch điện tử.
3. Được bảo vệ dữ liệu cá nhân theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
4. Được phổ cập năng lực số cơ bản.
5. Được lựa chọn sử dụng hoặc ngừng sử dụng sản phẩm, dịch vụ số trên cơ sở được cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, chính xác, minh bạch, kịp thời về điều khoản, điều kiện sử dụng; không bị áp đặt điều kiện bất hợp lý hoặc bị phân biệt đối xử khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ số.
6. Được bảo đảm điều kiện tiếp cận công bằng, an toàn, đặc biệt là đối tượng dễ bị tổn thương trên môi trường số.
7. Được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền hợp pháp trên môi trường số.
8. Được bảo đảm các quyền lợi của công dân số theo quy định của pháp luật có liên quan.