
Doanh nghiệp được xem xét xóa phí bảo lãnh vay vốn khi phá sản từ 15/5/2026 (Hình từ Internet)
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 12/2026/QĐ-TTg sửa đổi Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại kèm theo Quyết định 03/2011/QĐ-TTg
Quyết định sửa đổi Điều 9 quy định về phí bảo lãnh. Đáng chú ý, căn cứ Quyết định 12/2026/QĐ-TTg, có hiệu lực từ từ 15/5/2026.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định xóa phí bảo lãnh đối với doanh nghiệp đã phá sản, giải thể và sau khi thanh lý, xử lý toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Ngân hàng Phát triển Việt Nam hướng dẫn về hồ sơ, trình tự, thủ tục và chịu trách nhiệm về quyết định xóa phí bảo lãnh.
Đồng thời, thay thế quy định, theo đó Phí bảo lãnh thu được, Ngân hàng Phát triển Việt Nam được hạch toán toàn bộ vào thu nhập của Ngân hàng Phát triển Việt Nam thay vì phải trích 75% để hình thành quỹ dự phòng rủi ro bảo lãnh vay vốn như tại Quyết định 03/2011/QĐ-TTg.
Về mức Phí bảo lãnh bao gồm:
- Phí thẩm định hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn: 500.000 đồng cho một hồ sơ và nộp cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng với hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn;
- Phí bảo lãnh vay vốn: 0,5%/năm tính trên số tiền được bảo lãnh.
Như vậy, Doanh nghiệp được xem xét xóa phí bảo lãnh vay vốn khi phá sản.
Xem thêm tại Quyết định 12/2026/QĐ-TTg.
Tăng thời hạn xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán để mở thủ tục phá sản từ 01/3/2026
Quốc hội thông qua Luật Phục hồi, phá sản 2025 có hiệu lực từ 01/3/2026 thay thế Luật Phá sản 2014.
Theo đó, Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
So với quy định trước đây tại Luật Phá sản 2014 thời hạn xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp tăng từ 03 tháng lên 06 tháng.
Đồng thời, Luật cũng quy định người lao động, công đoàn có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản khi hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Chính phủ ban hành Nghị định 20/2026/NĐ-CP hướng dẫn Nghị quyết 198/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, có hiệu lực từ 15/01/2026.
Tại khoản 3 Điều 7 Nghị định quy định hướng dẫn việc miễn thuế TNDN cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu như sau:
Được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 03 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
Thời gian miễn thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
Trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp trước ngày 17/05/2025 mà còn thời gian áp dụng ưu đãi thì doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo quy định tại khoản này cho thời gian còn lại.
Như vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập trước 17/05/2025 được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đến 03 năm sau ngày cấp giấy chứng nhận.
Lưu ý Quy định ưu đãi tại khoản này không áp dụng đối với:
(i) Doanh nghiệp thành lập mới do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi chủ sở hữu, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;
(ii) Doanh nghiệp thành lập mới mà người đại diện theo pháp luật (trừ trường hợp người đại diện theo pháp luật không phải là thành viên góp vốn), thành viên hợp danh hoặc người có số vốn góp cao nhất đã tham gia hoạt động kinh doanh với vai trò là người đại diện theo pháp luật, thành viên hợp danh hoặc người có số vốn góp cao nhất trong các doanh nghiệp đang hoạt động hoặc đã giải thể nhưng chưa được 12 tháng tính từ thời điểm giải thể doanh nghiệp cũ đến thời điểm thành lập doanh nghiệp mới;
(iii) Thu nhập quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 67/2025/QH15.