
Rà soát sắp xếp thôn và tổ dân phố trong năm 2026 trên phạm vi cả nước (Hình từ Internet)
Tại họp báo thường kỳ quý I/2026 chiều 28/4/2026, đại diện Bộ Nội vụ đã thông tin về định hướng sắp xếp thôn, tổ dân phố theo hướng tinh gọn, phù hợp thực tiễn, nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở.
Tính đến hết năm 2021, cả nước có 90.508 thôn, tổ dân phố, trong đó có 69.580 thôn và 20.928 tổ dân phố. Theo kế hoạch, việc rà soát, sắp xếp thôn, bản, tổ dân phố sẽ được triển khai trên phạm vi cả nước trong năm 2026. Hiện nay, nhiều địa phương đang xây dựng đề án sắp xếp lại thôn, tổ dân phố.
Bộ Nội vụ được Chính phủ giao chủ trì xây dựng Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách tại thôn, tổ dân phố. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các địa phương triển khai thực hiện trong thời gian tới.
Cùng với việc xây dựng Nghị định, Bộ Nội vụ đã phối hợp với các cơ quan liên quan báo cáo cấp có thẩm quyền về chủ trương sắp xếp thôn, tổ dân phố. Định hướng chung là sắp xếp theo hướng tinh gọn đầu mối, giảm số lượng thôn, tổ dân phố, bảo đảm phù hợp với quy mô, đặc điểm và điều kiện của từng vùng, miền.
Việc sắp xếp này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, tạo thuận lợi trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, đồng thời giảm áp lực quản lý trực tiếp đối với chính quyền cấp xã.
Đối với dự thảo Nghị định, lãnh đạo Vụ cho biết nội dung được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp, đồng thời nghiên cứu, điều chỉnh theo hướng bảo đảm tương quan hợp lý với quy mô mới của cấp xã, gắn với khối lượng công việc và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách. Qua đó góp phần động viên, khuyến khích đội ngũ này yên tâm công tác, nâng cao nhiệm vụ cơ sở.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố theo Điều 10 Thông tư 04/2012/TT-BNV (sửa đổi tại Thông tư 14/2018/TT-BNV) như sau:
(1) Nhiệm vụ:
- Triệu tập và chủ trì hội nghị thôn, tổ dân phố; tổ chức thực hiện những công việc thuộc phạm vi thôn, tổ dân phố đã được nhân dân bàn và quyết định; bảo đảm các nội dung hoạt động của thôn, tổ dân phố theo quy định tại Điều 5 Thông tư 04/2012/TT-BNV (sửa đổi tại Thông tư 14/2018/TT-BNV);
- Vận động, tổ chức nhân dân thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở và hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
- Tập hợp, phản ánh, đề nghị chính quyền cấp xã giải quyết những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong thôn, tổ dân phố. Báo cáo kịp thời với Ủy ban nhân dân cấp xã về những hành vi vi phạm pháp luật trong thôn, tổ dân phố;
- Thực hiện việc lập biên bản về kết quả đã được nhân dân thôn, tổ dân phố bàn và quyết định trực tiếp những công việc của thôn, tổ dân phố; lập biên bản về kết quả đã được nhân dân thôn, tổ dân phố bàn và biểu quyết những công việc thuộc phạm vi cấp xã; báo cáo kết quả cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;
- Phối hợp với Ban công tác Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội ở thôn, tổ dân phố để vận động nhân dân tham gia thực hiện các phong trào và cuộc vận động do các tổ chức này phát động;
- Sáu tháng đầu năm và cuối năm phải báo cáo kết quả công tác trước hội nghị thôn, tổ dân phố.
(2) Quyền hạn:
- Được ký hợp đồng về xây dựng công trình do nhân dân trong thôn, tổ dân phố đóng góp kinh phí đầu tư đã được hội nghị thôn, tổ dân phố thông qua và bảo đảm các quy định liên quan của chính quyền các cấp;
- Được phân công nhiệm vụ giải quyết công việc cho Phó Trưởng thôn, Phó Tổ trưởng tổ dân phố; được chính quyền cấp xã mời họp và cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến quản lý, hoạt động của thôn, tổ dân phố; được bồi dưỡng, tập huấn về công tác tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố.