
Đã có Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) thay thế Luật Tiếp cận thông tin 2016 (Hình từ văn bản)
Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp thứ Nhất thông qua ngày 23/4/2026.
![]() |
Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) |
Theo đó, Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) quy định về việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân; trách nhiệm của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu (sau đây gọi là cơ quan, đơn vị) trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2026
Lưu ý: Theo quy định tại Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) thì:
- Việc cung cấp thông tin do cơ quan, đơn vị tạo ra hoặc nắm giữ trước khi sắp xếp tổ chức bộ máy do cơ quan, đơn vị tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị đó thực hiện theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16).
- Việc cung cấp thông tin do đơn vị sự nghiệp công lập có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu tạo ra hoặc nắm giữ trước ngày Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
- Thông tin tại khoản 1 Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) do cơ quan nhà nước tạo ra hoặc nắm giữ trước ngày Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) có hiệu lực thi hành nhưng chưa được Luật Tiếp cận thông tin 2016 và pháp luật có liên quan quy định phải công khai thì trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) có hiệu lực thi hành phải công khai thông tin theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16).
- Yêu cầu cung cấp thông tin được gửi đến các cơ quan nhà nước trước ngày Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) có hiệu lực thi hành nhưng chưa được giải quyết thì tiếp tục được giải quyết theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin 2016.
Theo quy định tại Điều 15 Luật Tiếp cận thông tin 2026 thì các thông tin công dân không được tiếp cận bao gồm:
- Thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin 2026.
- Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật dân sự và dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Tiếp cận thông tin 2026.
- Bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Tiếp cận thông tin 2026.
- Thông tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc người khác.
Việc xác định thông tin tại khoản 4 Điều 16 Luật Tiếp cận thông tin 2026 thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan; trường hợp pháp luật chưa quy định, căn cứ vào điều kiện thực tế, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin.
- Thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật.
- Thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo cho công việc nội bộ.
Xem thêm tại Luật Tiếp cận thông tin 2026 (Luật số 01/2026/QH16) thay thế Luật Tiếp cận thông tin 2016 có hiệu lực từ 01/9/2026.