Căn cứ Điều 26 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.
Ví dụ, một người lao động được tuyển dụng vào vị trí có mức lương thỏa thuận là 12.000.000 đồng/tháng. Trong thời gian thử việc, mức lương tối thiểu người lao động được nhận là:
12.000.000 đồng × 85% = 10.200.000 đồng/tháng.
Như vậy, nếu hai bên không có thỏa thuận mức lương cao hơn, người sử dụng lao động vẫn phải bảo đảm tiền lương thử việc ít nhất là 10.200.000 đồng/tháng trong ví dụ này.
Căn cứ điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 16 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, người sử dụng lao động có hành vi trả lương thử việc thấp hơn thỏa thuận hoặc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó sẽ bị xử phạt và phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Cụ thể, khoản 2 Điều 16 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi vi phạm quy định về thử việc, trong đó có hành vi trả lương thử việc thấp hơn thỏa thuận hoặc thấp hơn 85% mức lương của công việc.
Tuy nhiên, mức phạt nêu trên áp dụng đối với cá nhân. Theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân khi cùng thực hiện hành vi vi phạm.
Do đó, trường hợp doanh nghiệp (là tổ chức) vi phạm, mức phạt tiền được áp dụng như sau:
- Mức phạt thấp nhất: 4.000.000 đồng.
- Mức phạt cao nhất: 10.000.000 đồng.
Ngoài việc bị phạt tiền, người sử dụng lao động còn bị buộc trả đủ tiền lương của công việc đó cho người lao động theo điểm a khoản 3 Điều 16 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.
Xem thêm Nghị định 283/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 15/7/2026 và có hiệu lực từ ngày 10/9/2026.

Theo Điều 25 Bộ luật Lao động 2019 quy định thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:
- Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;
- Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;
- Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;
- Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.
Như vậy, thời gian thử việc tối đa của người lao động là không quá 180 ngày đối với trường hợp làm công việc của người quản lý doanh nghiệp.
Theo Điều 27 Bộ luật Lao động 2019, khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.
Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.
Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.
- Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.