Quyền hạn của Ủy ban kiểm tra các cấp theo Điểm 1.3 khoản 1 Điều 7 Quy định 225-QĐ/TW ngày 14/10/2026 như sau:
- Ủy ban kiểm tra có quyền yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên báo cáo, cung cấp hồ sơ, tài liệu, dữ liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra, giám sát.
- Ủy ban kiểm tra cấp trên có quyền kiểm tra lại kết luận, thông báo, quyết định của cấp uỷ, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
- Khi cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, tổ chức đảng gửi các văn bản, báo cáo cho cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ cấp trên thì đồng thời gửi Ủy ban kiểm tra cấp trên.
- Thực hiện thẩm định về công tác cán bộ khi được cấp uỷ giao (có ý kiến về tình hình đơn, thư phản ánh, tố cáo; về thực hiện kết luận kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; về kê khai tài sản, thu nhập; về thực hiện nhiệm vụ đảng viên và trách nhiệm nêu gương của đảng viên nơi công tác...).
- Đề nghị các tổ chức, cơ quan, đơn vị liên quan cử cán bộ tham gia các tổ (đoàn) kiểm tra, giám sát.
- Được quyền kết nối cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ sở dữ liệu khác để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát; việc truy cập, sử dụng cơ sở dữ liệu thực hiện theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát được sử dụng một số biện pháp: Ghi âm, ghi hình; niêm phong hồ sơ, tài liệu; yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh và các biện pháp khác theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Theo điểm 1.2 khoản 1 Điều 7 Quy định 225-QĐ/TW ngày 14/10/2026, Ủy ban kiểm tra thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ cùng cấp và sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra cấp trên, cụ thể:
- Ủy ban kiểm tra có thể uỷ quyền cho tập thể thường trực Ủy ban (nơi có từ 2 phó chủ nhiệm trở lên) quyết định một số vấn đề cụ thể (theo quy chế làm việc của Ủy ban và quy định chế độ làm việc của cơ quan Ủy ban kiểm tra). Thường trực Ủy ban gồm chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm. Đối với Ủy ban Kiểm tra Quân uỷ Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Đảng uỷ Công an Trung ương, thường trực Ủy ban kiểm tra gồm chủ nhiệm, các phó chủ nhiệm và các uỷ viên chuyên trách.
- Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Điều lệ Đảng và quy chế làm việc; xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát, định kỳ báo cáo cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ về kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, kết luận của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng, việc thực hiện quy chế làm việc của Ủy ban kiểm tra và các nhiệm vụ do cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ giao; chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp uỷ.
- Làm việc dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra cấp trên trong việc:
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Điều lệ Đảng, của Trung ương và hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
+ Phương hướng, nhiệm vụ, nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; việc tham mưu và xây dựng nội dung, chương trình kiểm tra, giám sát chuyên đề hằng năm.
+ Báo cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung kiểm tra, giám sát mà ủy ban kiểm tra cấp trên đang tiến hành.
+ Tuyên truyền, phổ biến công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
+ Khi cần thiết, ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp chỉ đạo giải quyết một số vấn đề cụ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của cấp uỷ, tổ chức đảng, Ủy ban kiểm tra cấp dưới.