Về vấn đề này, chuyên viên pháp lý Dương Châu Thanh giải đáp như sau:
Ngày 15/7/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Thông tư 31/2026/TT-BNNMT quy định phương pháp định giá rừng, hướng dẫn định khung giá rừng và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng.
Theo đó, việc xác định đơn giá bồi thường rừng khi nhà nước thu hồi đất được quy định như sau:
(1) Phân chia trạng thái rừng trên địa bàn theo các tiêu chí về: nguồn gốc hình thành, điều kiện lập địa, loài cây, trữ lượng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về điều tra, kiểm kê, theo dõi diễn biến rừng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức độ chi tiết việc phân chia các trạng thái rừng phù hợp với hiện trạng rừng địa phương trong trường hợp cần thiết.
(2) Điều tra, thu thập thông tin, dữ liệu của các trạng thái rừng, loại rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Thông tư 31/2026. Xác định các loại rừng đại diện cho từng trạng thái rừng tại khoản 1 Điều này làm cơ sở xác định đơn giá bồi thường rừng.
(3) Đơn giá bồi thường 01 ha đối với từng loại rừng tại khoản (1) được tính bằng giá trị quyền sử dụng rừng xác định theo quy định tại Điều 8 Thông tư 31/2026 đối với rừng tự nhiên hoặc được tính bằng thu nhập dự kiến theo quy định tại Điều 16 Thông tư 31/2026 đối với rừng trồng. Việc xác định đơn giá bồi thường 01 ha cho một trạng thái rừng tại khoản (1) được xác định bằng giá trị bình quân của giá rừng đối với từng loại rừng đại diện trong một trạng thái được xác định tại khoản (2).
(4) Trường hợp bồi thường rừng trước khi ban hành đơn giá bồi thường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá bồi thường rừng cụ thể cho từng khu rừng theo phương pháp định giá rừng quy định tại khoản 1 Điều 12 Thông tư 31/2026 đối với rừng tự nhiên hoặc khoản 1 Điều 20 Thông tư 31/2026 đối với rừng trồng.
Thông tư 31/2026/TT-BNNMT có hiệu lực từ ngày ký ban hành.