
Công văn 12628/BTC-QLCS hướng dẫn xác định giấy tờ chứng minh đã nộp tiền sử dụng đất ra sao? (Hình từ văn bản)
Ngày 17/8/2026, Bộ Tài chính ban hành Công văn 12628/BTC-QLCS về việc trả lời phản ánh, kiến nghị.
![]() |
Công văn 12628/BTC-QLCS |
Theo đó, về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
1. Về quy định của pháp luật về đất đai
Tại Điều 140 Luật Đất đai 2024 đã có quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền
Tại khoản 5 Điều 12 Nghị định 103/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định:
“Điều 12. Tỉnh tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận đối với các trường hợp đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền quy định tại Điều 140 Luật Đất đai
5. Giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất khi tính tiền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này bao gồm:
a) Biên lai, phiếu thu, hóa đơn thu tiền để được sử dụng đất, thu tiền đền bù theo Quyết định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 5 năm 1990 của Hội đồng Bộ trường về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác.
b) Biên lai, phiếu thu, hóa đơn thu tiền theo Thông tư số 60/TC-TCT ngày 16 tháng 7 năm 1993 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý thu đổi với việc bản nhà thuộc sở hữu nhà nước, việc cấp quyền sử dụng đất xây dựng nhà ở và công trình.
c) Biên lai, phiếu thu, hóa đơn chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc của cơ quan, tổ chức đã giao đất không đúng thẩm quyền.
d) Trường hợp giấy tờ quy định tại điểm a, b và c khoản này bị mất, thất lạc nhưng tại Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức đã giao đất không đúng thẩm quyền còn giấy tờ (hồ sơ) lưu trữ và ghi chép về việc người sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất thì người sử dụng đất đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận hoặc sao y bản chính. Ban xác nhận hoặc sao y bản chính tại điểm này được công nhận là giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức như giấy tờ tại điểm a, b và c khoản này."
2. Căn cứ quy định nêu trên, các giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất khi tính tiền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất trái thẩm quyền quy định tại Điều 140 Luật Đất đai 2024, khoản 5 Điều 12 Nghị định 103/2024/NĐ-CP gồm: Biên lai, phiếu thu, hóa đơn.
Trường hợp các giấy tờ nêu trên bị mất hoặc thất lạc nhưng tại Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức đã giao đất không đúng thẩm quyền còn giấy tờ (hồ sơ) lưu trữ và ghi chép về việc người sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất thì người sử dụng đất đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận hoặc sao y bản chính. Bản xác nhận hoặc sao y bản chính này được công nhận là giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức.
Như vậy, đối với trường hợp giao đất trái thẩm quyền quy định tại Điều 140 Luật Đất đai 2024, nếu người sử dụng đất không có các giấy tờ theo quy định tại khoản 5 Điều 12 Nghị định 103/2024/NĐ-CP (Biên lai, phiếu thu, hóa đơn hoặc Bản xác nhận của UBND cấp xã hoặc sao y bản chính của các giấy tờ này) thì không có cơ sở để xác định là đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức.