
Công văn 16664/BTC-QLCS về thu bổ sung tiền sử dụng đất và tiền thuê đất thế nào? (Hình từ Internet)
Bộ Tài chính ban hành Công văn 16664/BTC-QLCS ngày 19/10/2026 về thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại Công văn 10225/VPCP-NN ngày 07/10/2026 của Văn phòng Chính phủ.
![]() |
Công văn 16664/BTC-QLCS |
Liên quan đến nội dung thực hiện nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao về xử lý kiến nghị đối với quy định về khoản tiền phải nộp bổ sung tại khoản 2 Điều 257 Luật Đất đai 2024, tại Công văn 10225/VPCP-NN ngày 07/10/2026 của Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng có ý kiến chỉ đạo:
“Trong thời gian Luật Đất đai (sửa đổi) chưa được Quốc hội thông qua, Bộ Tài chính hướng dẫn các địa phương thực hiện việc thu bổ sung tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định hiện hành. ”
Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Căn cứ quy định của pháp luật, theo chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý nhà nước được giao, Bộ Tài chính đã có Công văn 14911/BTC-QLCS ngày 22/9/2026 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc thực hiện quy định tại khoản 2 Điều 257 Luật Đất đai, khoản 2 Điều 50, khoản 9 Điều 51 Nghị định 103/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 18 và điểm đ khoản 19 Điều 1 Nghị định 291/2025/NĐ-CP);
Trong đó, đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quan tâm chỉ đạo, đôn đốc các sở, ngành có liên quan tại địa phương và người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất khẩn trương rà soát, thống kê đầy đủ các dự án chậm xác định giá đất để tính, thu, nộp tiền đất và các khoản thu khác theo quy định vào ngân sách nhà nước; trên cơ sở đó:
(i) Xác định cụ thể lý do (nguyên nhân) của việc chậm xác định giá đất, để tính thu nghĩa vụ tài chính của các dự án trên địa bàn;
(ii) Đôn đốc chỉ đạo khẩn trương xác định giá đất để tính thu nghĩa vụ tài chính theo quy định;
(iii) Xem xét xử lý trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân (nếu có) trong việc chậm xác định giá đất để tính thu nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Đối với các dự án có vướng mắc về pháp lý, chỉ đạo rà soát pháp lý của các dự án, nguyên nhân đưa hay không đưa đất vào sử dụng, việc gia hạn hay không gia hạn tiến độ đầu tư của dự án theo pháp luật về đầu tư, pháp luật về đất đai, việc chưa xác định giá đất, chưa thực hiện nộp tiền đất và khoản thu bổ sung; trên cơ sở đó xử lý các vấn đề liên quan đến đất đai (pháp lý về đất, việc xác định giá đất...), bao gồm cả việc xử lý các dự án chậm tiến độ theo đúng quy định của pháp luật.
Xem thêm tại Công văn 16664/BTC-QLCS ban hành ngày 19/10/2026.
Điều 4 Nghị định 103/2024/NĐ-CP quy định về diện tích đất tính tiền sử dụng đất như sau:
- Diện tích tính tiền sử dụng đất đối với trường hợp được giao, được chuyển mục đích sử dụng đất, được điều chỉnh quy hoạch chi tiết, được chuyển hình thức sử dụng đất là diện tích đất có thu tiền sử dụng đất ghi trên quyết định giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều chỉnh quyết định giao đất, điều chỉnh quy hoạch chi tiết, chuyển hình thức sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Diện tích tính tiền sử dụng đất đối với trường hợp công nhận quyền sử dụng đất là diện tích đất được công nhận ghi trên Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai (sau đây gọi là Phiếu chuyển thông tin) do cơ quan có chức năng quản lý đất đai chuyển đến cơ quan thuế theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai (sau đây gọi là Nghị định về cấp giấy chứng nhận).
Việc xác định hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở của hộ gia đình, cá nhân được thực hiện theo quy định tại các Điều 141, 195 và 196 Luật Đất đai, Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Nghị định về cấp giấy chứng nhận.
- Diện tích tính tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 4 Nghị định 103/2024/NĐ-CP được tính theo đơn vị mét vuông (m2).