
Đã có Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC về chuyển đổi hình phạt tù từ 01/7/2026 (Hình từ văn bản)
Bộ trưởng Bộ Công an, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên tịch ban hành Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 22/6/2026 quy định chi tiết Điều 25 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù về chuyển đổi hình phạt tù.
![]() |
Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC |
Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC áp dụng đối với:
- Tòa án nhân dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp;
- Bộ Công an;
- Người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài được tiếp nhận về Việt Nam;
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.
Việc chuyển đổi hình phạt tù phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Hình phạt tù trong bản án, quyết định mà tòa án của nước chuyển giao đã tuyên đối với người đang chấp hành án phạt tù không phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên và các quy định khác của pháp luật Việt Nam phải được chuyển đổi cho phù hợp;
- Tuân thủ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;
- Không chuyển đổi hình phạt tù thành hình phạt khác.
Theo Điều 4 Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn xác định tội phạm, điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt như sau:
- Khi kiểm tra hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước chuyển giao về Việt Nam theo quy định tại Điều 21 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, căn cứ vào các tình tiết của vụ án được nêu trong bản án, quyết định đã được tòa án của nước chuyển giao tuyên, Bộ Công an có trách nhiệm đánh giá ban đầu về tội phạm, điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt áp dụng đối với hành vi mà người được đề nghị chuyển giao về Việt Nam đã thực hiện ở nước chuyển giao theo quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Trong trường hợp cần thiết, Bộ Công an lấy ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có văn bản trả lời.
- Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam căn cứ vào các tình tiết của vụ án được nêu trong bản án, quyết định đã được tòa án của nước chuyển giao tuyên, ý kiến của Bộ Công an quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp để xem xét, quyết định chuyển đổi hình phạt tù.
Nội dung chuyển đổi hình phạt tù gồm thông tin về điều luật áp dụng, tội danh, hình phạt và phải được thể hiện trong quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.
Việc chuyển đổi hình phạt tù đối với người thành niên khi phạm tội được thực hiện như sau:
- Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù có thời hạn trên 30 năm đối với nhiều tội thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất đến 30 năm tù;
- Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù có thời hạn trên 20 năm đối với một tội thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất đến 20 năm tù;
- Trường hợp người đang chấp hành án phạt tù bị xử phạt tù chung thân và hành vi mà người đó thực hiện ở nước chuyển giao có hình phạt tù có thời hạn theo quy định của pháp luật Việt Nam thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, quyết định để thời hạn phải chấp hành phần hình phạt của người được tiếp nhận cao nhất phù hợp với quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC.
Xem thêm tại Thông tư liên tịch 07/2026/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.