Tại Điều 8 Nghị định 258/2026/NÐ-CP quy định về thực hiện thí điểm cơ chế Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động như sau:
1. Tại quốc gia đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam nhưng chưa có nhu cầu thành lập Đại sứ quán thường trú, trên cơ sở thỏa thuận với nước tiếp nhận và yêu cầu nhiệm vụ, Bộ Ngoại giao báo cáo cấp có thẩm quyền đề xuất việc thực hiện thí điểm cơ chế Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động thay thế cơ chế Đại sứ đặc mệnh toàn quyền kiêm nhiệm tại địa bàn đó.
2. Một Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động có thể được bổ nhiệm tại một hoặc nhiều quốc gia. Nhiệm kỳ Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động tại mỗi quốc gia là 36 tháng và có thể được kéo dài hoặc rút ngắn theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
3. Tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục bổ nhiệm và cơ chế quản lý Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động được thực hiện tương tự quy định áp dụng đối với Đại sứ đặc mệnh toàn quyền. Trong giai đoạn thí điểm từ khi Nghị định này có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2030, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động là công chức, viên chức thuộc Bộ Ngoại giao.
4. Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ chế đại diện chính thức của Nhà nước Việt Nam trong quan hệ với sở tại.
5. Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động hưởng chế độ công tác phí, phương tiện đi lại khi đi công tác trong nước và nước ngoài tương tự quy định áp dụng đối với Đại sứ đặc mệnh toàn quyền và hưởng mức phụ cấp trách nhiệm hằng tháng bằng 50% mức sinh hoạt phí cơ sở của thành viên cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Trường hợp một người được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động tại nhiều địa bàn thì được hưởng thêm phụ cấp trách nhiệm hằng tháng bằng 15% mức sinh hoạt phí cơ sở đối với địa bàn thứ hai và tối đa 20% mức sinh hoạt phí cơ sở đối với địa bàn thứ ba trở lên.
6. Trong giai đoạn thí điểm, Bộ Ngoại giao thành lập tổ công tác giúp việc cho các Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động gồm một số công chức, viên chức của Bộ Ngoại giao, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, được hưởng chế độ công tác phí, phương tiện đi lại khi đi công tác trong nước và nước ngoài và hưởng mức phụ cấp trách nhiệm hằng tháng bằng 20% mức sinh hoạt phí cơ sở của thành viên cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Tại Điều 21 Nghị quyết 250/2025/QH15 quy định tăng cường nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế như sau:
1. Căn cứ quyết định của cơ quan có thẩm quyền, trên cơ sở đề xuất của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực và ý kiến thống nhất của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các Bộ, ngành có liên quan, Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước bổ nhiệm có thời hạn chức danh “Đại sứ”, “Đặc phái viên của Chủ tịch nước” về một số lĩnh vực, nhiệm vụ có tầm quan trọng chiến lược trong công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế.
2. Trên cơ sở đề xuất của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực và ý kiến thống nhất của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ, ngành có liên quan, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm có thời hạn chức danh “Đặc phái viên của Thủ tướng Chính phủ” về một số lĩnh vực, nhiệm vụ có tầm quan trọng chiến lược trong công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế và quyết định cử người giữ chức danh này làm Trưởng đoàn, cố vấn đoàn đàm phán của Chính phủ hoặc thực hiện các nhiệm vụ đối ngoại khác.
3. Trường hợp Việt Nam chưa đặt trụ sở cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và trên cơ sở thỏa thuận với nước tiếp nhận, thực hiện thí điểm việc bổ nhiệm “Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động”. Quy trình bổ nhiệm “Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động” được thực hiện tương tự quy trình bổ nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền theo pháp luật về cơ quan đại diện.
4. Nhà nước có chính sách đặc thù để thu hút, sử dụng nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế thuộc các lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm, chiến lược của quốc gia. Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương xây dựng và quản lý danh sách nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế.