
7 điểm mới khi tính thuế TNCN năm 2026 cần lưu ý (Hình từ internet)
Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 có hiệu lực từ 1/7/2026, tuy nhiên các quy định có liên quan đến thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Do đó, người lao động có thu nhập từ tiền lương, tiền công cần lưu ý những điểm sau khi tính thuế thu nhập cá nhân trong năm 2026. Cụ thể như sau:
Theo Điều 10 Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2025, giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú.
Theo đó, nâng mức giảm trừ gia cảnh đối với người nộp thuế và người phụ thuộc như sau:
+ Đối với người nộp thuế: Từ 11 triệu đồng/tháng lên 15,5 triệu đồng/tháng.
+ Đối với người phụ thuộc: Từ 4,4 triệu đồng/tháng lên 6,2 triệu đồng/tháng.
- Căn cứ biến động của giá cả, thu nhập, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức giảm trừ gia cảnh phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
- Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế.
- Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
+ Con chưa thành niên; con là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật, không có khả năng lao động;
+ Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.
Biểu thuế luỹ tiến từng phần được quy định tại Điều 9 Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2025 như sau:
|
Bậc thuế |
Phần thu nhập tính thuế/năm |
Phần thu nhập tính thuế/tháng |
Thuế suất (%) |
|
1 |
Đến 120 |
Đến 10 |
5 |
|
2 |
Trên 120 đến 360 |
Trên 10 đến 30 |
10 |
|
3 |
Trên 360 đến 720 |
Trên 30 đến 60 |
20 |
|
4 |
Trên 720 đến 1.200 |
Trên 60 đến 100 |
30 |
|
5 |
Trên 1.200 |
Trên 100 |
35 |
Nâng mức thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả nguồn thu nhập làm căn cứ xác định người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh lên 3 triệu đồng/tháng thay vì 1 triệu đồng/tháng như trước đây.
Cụ thể, Điều 3 Thông tư 87/2026/TT-BTC quy định mức thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập của người phụ thuộc quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 và điểm c khoản 2, điểm a và điểm b khoản 3 Điều 47 Nghị định 253/2026/NĐ-CP không vượt quá 03 triệu đồng.
Người nộp thuế chịu trách nhiệm về việc xác định người phụ thuộc không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá mức quy định nêu trên và có trách nhiệm kê khai đúng, trung thực thu nhập của người phụ thuộc. Trường hợp trong quá trình thực hiện, cơ quan thuế phát hiện kê khai không đúng sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước đây, theo quy định tại Nghị định 65/2013/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư 26/2016/TT-BLĐTBXH, mức khống chế tiền ăn giữa ca tối đa là 730.000 đồng/người/tháng. Tuy nhiên, quy định này đã bị bãi bỏ theo Thông tư 003/2025/TT-BNV.
Từ ngày 01/7/2026, theo Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, trường hợp người sử dụng lao động chi tiền ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động, thì chỉ phần chi vượt quá 1,2 triệu đồng/người lao động/tháng mới phải tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Nếu bữa ăn được tổ chức dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn hoặc cấp phiếu ăn, thì khoản lợi ích này không tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động.
Như vậy, quy định mới đã nâng mức tiền ăn giữa ca lên 1,2 triệu đồng/người/tháng, tương ứng tăng khoảng 1,64 lần so với mức 730.000 đồng trước đây, nhằm phù hợp với biến động thu nhập và giá cả.
Giảm trừ thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với các khoản chi cho y tế và giáo dục đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc. Trong đó:
- Khoản chi cho việc khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do BHYT chi trả với tổng tối đa không quá 23 triệu đồng/năm.
- Khoản chi cho giáo dục đào tạo tại các cơ sở giáo dục đào tạo trong nước, bao gồm học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học theo quy định pháp luật với mức tổng tối đa không quá 24 triệu đồng/năm.
Lưu ý rằng để được giảm trừ các khoản này, người nộp thuế phải có hóa đơn, chứng từ theo quy định pháp luật. Đối với các khoản chi cho y tế phải kèm theo Bảng kê chi phí khám chữa bệnh được sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế. Các hóa đơn, chứng từ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc. Các khoản này không được chi trả từ nguồn khác, kể cả nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay cho tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ BHXH, BHYT và bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
(Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP)
So với quy định trước đây tại Nghị định 65/2013/NĐ-CP, Chính phủ đã điều chỉnh tăng mức thu nhập để làm căn cứ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân 10% với thu nhập vãng lai từ 02 triệu đồng/lần lên 05 triệu đồng/lần.
Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP:
Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.
Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác mà phần thu nhập này bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng và đã được tổ chức, cá nhân trả thu nhập khấu trừ 10% thì không phải thực hiện quyết toán thuế TNCN đối với phần thu nhập này theo Điểm b khoản 1 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.