
Đề xuất định danh địa điểm, không gian và tài sản số như thế nào? (Hình ảnh từ Internet)
Bộ Công an đang lấy ý kiến dự thảo Luật Định danh và Xác thực điện tử.
![]() |
Dự thảo Luật |
Cụ thể, tại Điều 5 Dự thảo Luật Định danh và Xác thực điện tử đề xuất đối tượng định danh điện tử bao gồm:
(1) Cơ quan, tổ chức, cá nhân.
(2) Các đối tượng tồn tại dưới dạng vật chất: sản phẩm, hàng hóa, thiết bị và các loại tài sản, vật chất khác.
(3) Các đối tượng tồn tại dưới dạng phi vật chất:
- Dữ liệu và tài nguyên số: cơ sở dữ liệu, tệp dữ liệu, hình ảnh, video, các dữ liệu và tài nguyên số khác;
- Ứng dụng, phần mềm và các dịch vụ số;
- Quyền tài sản và quyền sở hữu trí tuệ;
- Tài sản số theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số;
- Di sản văn hóa phi vật thể;
- Các đối tượng phi vật chất khác.
(4) Sự kiện, giao dịch, hành vi.
(5) Địa điểm và không gian.
* Lưu ý: Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Theo ĐIều 9 Dự thảo Luật Định danh và Xác thực điện tử đề xuất hoạt động định danh điện tử như sau:
(1) Hoạt động định danh điện tử bao gồm các giai đoạn trong vòng đời danh tính điện tử:
- Đăng ký định danh điện tử;
- Thu thập, kiểm tra, đối soát và chuẩn hóa thông tin;
- Tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh;
- Lưu trữ, cập nhật thông tin về danh tính điện tử;
- Khai thác và sử dụng danh tính điện tử;
- Tạm dừng hiệu lực danh tính điện tử;
- Chấm dứt và hủy bỏ hiệu lực của danh tính điện tử;
- Liên kết danh tính điện tử.
(2) Hoạt động định danh điện tử đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật này phải bảo đảm danh tính điện tử có khả năng xác định duy nhất chủ thể, tương thích với thông tin nhân thân và thông tin pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập.
(3) Hoạt động định danh điện tử đối với đối tượng quy định tại khoản 2, 3 và 5 Điều 7 của Luật này phải bảo đảm danh tính điện tử của đối tượng có khả năng liên kết với danh tính điện tử của chủ thể sở hữu hoặc quản lý hợp pháp theo quy định tại Điều 20 của Luật này. Việc liên kết bắt buộc được thực hiện khi đối tượng tham gia giao dịch hoặc thủ tục pháp lý.
(4) Hoạt động định danh điện tử đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 7 của Luật này phải bảo đảm danh tính điện tử có khả năng liên kết với danh tính điện tử của tất cả các bên tham gia theo quy định tại Điều 20 của Luật này, bao gồm thông tin về thời gian, địa điểm và ngữ cảnh xảy ra.
Tại ĐIều 16 Dự thảo Luật Định danh và Xác thực điện tử đề xuất quy định về việc khai thác danh tính điện tử và giá trị sử dụng như sau:
(1) Danh tính điện tử được đảm bảo khi được thu thập, kiểm tra, đối chiếu với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành hoặc dữ liệu do chủ thể danh tính điện tử cung cấp; việc xác minh mức độ bảo đảm danh tính được thực hiện thông qua kiểm tra, đối chiếu yếu tố gắn liền với đối tượng được định danh điện tử, phù hợp với tính chất của giao dịch, thủ tục theo quy định của Chính phủ và pháp luật chuyên ngành.
(2) Giá trị sử dụng của danh tính điện tử:
- Đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật này: việc sử dụng danh tính điện tử có giá trị tương đương việc cung cấp, xuất trình giấy tờ, tài liệu có chứa thông tin đó trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác.
- Đối với đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 7 của Luật này: danh tính điện tử tương đương việc xuất trình các giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu, quyền quản lý hợp pháp của chủ thể danh tính điện tử đối với đối tượng đó;
- Đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 7 của Luật này: danh tính điện tử có giá trị cung cấp thông tin ghi nhận về sự kiện, hoạt động, giao dịch, hành vi, tương tác giữa các đối tượng tại thời gian, địa điểm được xác định gắn với danh tính điện tử của các đối tượng;
- Đối với đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 7 của Luật này: danh tính điện tử có giá trị xác định, định vị và phân biệt địa điểm, không gian được định danh trên môi trường điện tử.
(3) Danh tính điện tử quốc gia được khai thác và sử dụng như sau:
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng danh tính điện tử của mình và các đối tượng thuộc sở hữu của mình thông qua việc truy cập ứng dụng định danh quốc gia;
- Hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức cung cấp dịch vụ công kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử để khai thác thông tin về danh tính điện tử phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trên môi trường điện tử và các hoạt động quản lý nhà nước khác theo chức năng, nhiệm vụ được giao qua nền tảng định danh và xác thực điện tử.
(4) Danh tính điện tử tự chủ được khai thác và sử dụng như sau:
- Các cơ quan, tổ chức thực hiện khai thác danh tính điện tử, tài khoản định danh điện tử qua tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử trong trường hợp chủ thể có thỏa thuận với tổ chức cung cấp dịch vụ định danh điện tử về việc lưu trữ và khai thác danh tính điện tử tự chủ tại hệ thống của tổ chức này;
- Chủ thể của danh tính tự chủ có quyền quyết định việc khai thác, sử dụng thông tin về danh tính điện tử của mình và các đối tượng mình sở hữu, quản lý.
Xem thêm dự thảo Luật Định danh và Xác thực điện tử.