
Quy định mới trong đánh giá học sinh tiểu học, THCS và THPT theo Thông tư 89/2026 ra sao? (Hình từ internet)
Ngày 16/10/2026, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo bạn hành Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT và Quy định về đánh giá học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT.
Dưới đây là những quy định mới trong đánh giá học sinh tiểu học, THCS và THPT:
Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT xác định Học bạ số là thành phần của hồ sơ đánh giá học sinh.
Theo đó, tại Điều 10, Điều 11, Điều 16 Quy định ban hành kèm theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT (được sửa đổi bổ sung tại Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT quy định ở cấp tiểu học, hồ sơ đánh giá từng năm học của mỗi học sinh gồm Học bạ số và Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp.
Nhận xét, kết quả tổng hợp đánh giá giáo dục và thành tích được khen thưởng trong năm học của học sinh được cập nhật vào Học bạ số. Học sinh hoàn thành chương trình lớp 5 được xác nhận “Hoàn thành chương trình tiểu học” trên Học bạ số.
Ngoài ra, đối với cấp tiểu học, giáo viên môn học chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu kết quả học tập thuộc môn học, hoạt động giáo dục được phân công và trực tiếp ký số xác nhận kết quả môn học đó.
Giáo viên chủ nhiệm thực hiện ký số xác nhận Học bạ số của lớp sau khi giáo viên môn học đã hoàn thành ký số.
Đối với cấp THCS, THPT, các thông tin và nội dung đánh giá tại mẫu Học bạ là căn cứ xác định nội dung chuyên môn của Học bạ số. Các hướng dẫn về ghi bằng bút, sửa chữa bằng bút mực đỏ, ký, đóng dấu trực tiếp chỉ áp dụng đối với Học bạ giấy được tiếp tục sử dụng trong thời gian chuyển tiếp. (Điều 22 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT)
Theo đó, Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng, thẩm định, cung cấp đề kiểm tra định kì chung cho các cơ sở giáo dục trên địa bàn đối với một số môn học đánh giá bằng điểm số do Sở Giáo dục và Đào tạo lựa chọn. Việc kiểm tra phải có thông báo và được thực hiện cuối học kì I và cuối năm học đối với học sinh lớp 5; cuối học kì I và cuối học kì II đối với học sinh lớp 9, lớp 12.
Đề kiểm tra phải phù hợp với yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông và thống nhất giữa các cơ sở giáo dục cùng cấp học. Nhà trường tổ chức coi, chấm, tổng hợp kết quả bảo đảm khách quan, công bằng, thực chất và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh của trường; tự ra đề đối với các môn học, thời điểm kiểm tra và khối lớp còn lại.
(Điều 8, Điều 20, Điều 21 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT)
Theo đó, đối với cấp THCS, THPT nhà trường tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ trên máy tính khi đáp ứng đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm kiểm tra, đánh giá và vận hành theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhà trường thông báo hình thức kiểm tra và yêu cầu kỹ thuật đến học sinh và cha mẹ học sinh trước khi tổ chức thực hiện.
- Bài làm và kết quả kiểm tra trên máy tính được lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử, có giá trị pháp lý tương đương bài làm trên giấy khi đáp ứng yêu cầu về tính toàn vẹn, xác thực, bảo mật, lưu trữ, khả năng truy cập, truy xuất theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
- Nhà trường có phương án dự phòng được chuẩn bị trước và thông báo cho học sinh trước khi tổ chức kiểm tra. Trường hợp sự cố kỹ thuật ảnh hưởng đến kết quả làm bài của học sinh, nhà trường tổ chức kiểm tra lại cho học sinh bị ảnh hưởng hoặc chuyển sang hình thức kiểm tra trên giấy trong thời hạn không quá 07 (bảy) ngày làm việc kể từ ngày xảy ra sự cố, bảo đảm đề kiểm tra tương đương về nội dung, mức độ yêu cầu; bảo đảm quyền lợi của học sinh và tính khách quan, trung thực của kết quả kiểm tra.
- Đối với học sinh khuyết tật tham gia bài kiểm tra định kỳ trên máy tính, nhà trường thực hiện điều chỉnh hợp lý phù hợp với đặc điểm, mức độ khuyết tật của học sinh theo quy định tại Điều 11 Thông tư này. Trường hợp học sinh khuyết tật không có khả năng tham gia bài kiểm tra trên máy tính kể cả khi đã áp dụng đầy đủ các biện pháp điều chỉnh, nhà trường tổ chức cho học sinh thực hiện kiểm tra trên giấy hoặc theo hình thức khác phù hợp với tình trạng khuyết tật của học sinh theo quy định tại Thông tư này; kết quả kiểm tra có giá trị pháp lý tương đương.
(Điều 15 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT)
Thông tư quy định thống nhất nguyên tắc đánh giá học sinh khuyết tật ở các cấp học nhằm bảo đảm tính nhân văn, đánh giá dựa trên sự tiến bộ của chính học sinh, không so sánh với các học sinh khác. Môn học, hoạt động giáo dục mà học sinh được miễn trong kế hoạch giáo dục cá nhân thì được miễn kiểm tra, đánh giá và ghi “Miễn” trong Học bạ số; kết quả giáo dục kỹ năng đặc thù được đánh giá như một hoạt động giáo dục.
Đối với học sinh học tại lớp dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện đi học ở trường, giáo viên căn cứ nhận xét, đánh giá thường xuyên và kết quả đánh giá định kì môn Toán, môn Tiếng Việt (cấp tiểu học) hoặc môn Ngữ văn, môn Toán và các môn học khác mà học sinh có khả năng tham gia (cấp THCS) để đánh giá học sinh.
Cũng theo quy định của Thông tư, đối với học sinh trong thời hạn chấp hành kỉ luật, giáo viên chủ nhiệm phối hợp với gia đình động viên, giúp đỡ học sinh rèn luyện; sau khi học sinh hoàn thành việc chấp hành quyết định kỉ luật và được nhà trường công nhận, giáo viên chủ nhiệm đánh giá lại kết quả rèn luyện, ghi nhận sự cố gắng, tiến bộ của học sinh.
Học sinh có kết quả rèn luyện cả năm học mức Chưa đạt nhưng sau rèn luyện trong kì nghỉ hè được đánh giá từ mức Đạt trở lên thì thuộc đối tượng được đánh giá lại kết quả học tập; kết quả đánh giá lại của từng môn học được dùng thay thế kết quả cả năm học để xét lên lớp.
(Điều 2 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT)
Xem thêm tại Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2026.