
Đề xuất sửa đổi quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại Luật Đất đai 2024 (Hình từ Internet)
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo Luật sửa đổi Luật Đất đai (hay dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2026), dự kiến được thông qua trong năm 2026.
Tại dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại Luật Đất đai 2024.
Đầu tiên là quy định về các căn cứ tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại Điều 155 với việc sửa đổi, bổ sung các nội dung như sau:
- Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1:
“b) Giá đất theo bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất hoặc giá đất cụ thể; trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất thì giá đất là giá trúng đấu giá;”
- Bổ sung điểm d và điểm d vào sau điểm c khoản 1:
“d) Chi phí xây dựng hạ tầng được xác định theo quy định của pháp luật về xây dựng đối với trường hợp giá đất theo bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất (nếu có);
đ) Tỷ lệ tính thu tiền sử dụng đất đối với từng loại đất theo đối tượng, hình thức sử dụng đất đối với trường hợp giá đất theo bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất (nếu có).”
- Bổ sung điểm e vào sau điểm đ khoản 2:
“e) Chi phí xây dựng hạ tầng được xác định theo quy định của pháp luật về xây dựng đối với trường hợp giả đất theo bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất (nếu có).”
- Bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3:
“3a. Thời điểm xác định giá đất đối với diện tích đất thanh toán cho Hợp đồng BT là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất. Trường hợp Nhà nước chậm giao đất, cho thuê đất để thanh toán cho Hợp đồng BT thì Nhà đầu tư được hưởng thêm một khoản tiền tương ứng với mức lãi suất trung bình của các Ngân hàng thương mại là công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đối với phần giá trị của hạng mục công trình hoặc công trình. Thời gian được hưởng tính từ thời điểm nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình hoặc công trình dự án BT đến thời điểm có quyết định giao đất, cho thuê đất.”
- Sửa đổi, bổ sung khoản 4:
“4. Trường hợp xác định giá đất cụ thể để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phải ban hành quyết định giá đất trong thời hạn 180 ngày kể từ thời điểm định giá đất quy định tại các điểm a, c và d khoản 3 Điều này.”.
Về nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất tại Điều 156, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất như sau:
“1. Khi chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 121 của Luật Đất đai thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định sau đây:
a) Nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê dựa trên mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của loại đất sau khi chuyển mục đích sử dụng đất và tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của loại đất trước khi chuyển mục đích sử dụng đất cho thời gian sử dụng đất còn lại;
b) Nộp tiền thuê đất hằng năm theo loại đất sau khi chuyển mục đích sử dụng đất;
c) Trường hợp đất vườn, ao, đất nông nghiệp trong cùng thửa đất có đất ở được xác định khi công nhận quyền sử dụng đất mà chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền đất ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền sử dụng đất hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì tỉnh tiền sử dụng đất theo mức thu bằng: 30% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở và tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (sau đây gọi tắt là chênh lệch) đối với diện tích đất chuyển mục đích sử dụng trong hạn mức giao đất ở tại địa phương; 50% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức nhưng không quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương; 100% chênh lệch đối với diện tích đất vượt hạn mức mà vượt quá 01 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương. Mức thu tiền sử dụng đất nêu trên chỉ được tính một lần cho một hộ gia đình, cá nhân (tính trên 01 thửa đất).”
Ngoài ra dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2026 cũng đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 157 Luật Đất đai 2024 về miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất như sau:
“2. Chính phủ quy định các trường hợp khác được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chưa được quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Đối với trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì không phải thực hiện thủ tục xác định giá đất, tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và không phải thực hiện thủ tục đề nghị miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, trừ trường hợp chỉ được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất một số năm.
Trường hợp giảm tiền thuê đất hằng năm theo quy định của Chính phủ trong thực tiễn điều hành kinh tế - xã hội hằng năm thì người sử dụng đất không phải thực hiện thủ tục đề nghị giảm tiền thuê đất.”
Dự kiến các đề xuất mới nêu trên dự kiến được áp dụng từ ngày 01/3/2027 nếu được Quốc hội thông qua.