Tại Điều 12 Nghị định 282/2026/NĐ-CP quy định về cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai khi thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa như sau:
(1) Địa phương thực hiện thí điểm mô hình đô thị di sản văn hóa quyết định:
(1.1) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định: chỉ tiêu sử dụng đất ngoài các chỉ tiêu đã được phân bổ theo quy hoạch sử dụng đất quốc gia thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực di sản văn hóa, công nghiệp văn hóa; chỉ tiêu sử dụng đất bổ sung được cập nhật vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thời kỳ tiếp theo theo quy định;
(1.2) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi có ý kiến thống nhất của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh về mức áp dụng cơ chế ưu đãi đơn giá thuê đất theo từng không gian đặc thù, bảo đảm mức tối đa không vượt quá 50% so với mức quy định hiện hành, để thực hiện các dự án đầu tư kinh doanh dịch vụ, du lịch, dự án đầu tư công - quản trị tư, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư trong lĩnh vực di sản văn hóa, thực hiện các đề án khai thác kinh tế di sản, phát triển công nghiệp văn hóa theo quy hoạch, đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong khu vực di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di sản thế giới (sau đây gọi chung là di tích) trong trường hợp bảo đảm không ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành và cảnh quan văn hóa của di tích theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và bảo đảm phù hợp với quy hoạch, các quy định quản lý quy hoạch, kiến trúc, yêu cầu bảo vệ cảnh quan, không gian kiến trúc và khả năng chịu tải của hạ tầng đô thị theo quy định của các pháp luật có liên quan.
(2) Nội dung quy định tại điểm (1.2) không dùng để xác định số bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương.
Điều 5 Nghị quyết 28/2026/QH16 quy định về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa như sau:
(1) Sản xuất phim, phát hành phim, phổ biến phim; triển lãm; dịch vụ luyện tập, thi đấu thể dục, thể thao cho người khuyết tật hoặc thể thao chuyên nghiệp; hoạt động nghệ thuật biểu diễn không thuộc trường hợp quy định tại điểm k khoản 2 Điều 9 của Luật Thuế giá trị gia tăng được hưởng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 5%.
(2) Các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị đang ở nước ngoài được tổ chức, cá nhân mua, đấu giá, đưa về Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận để trưng bày theo quy định của Luật Di sản văn hóa hoặc tặng cho, chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước:
a) Được miễn 100% thuế nhập khẩu, phí hải quan;
b) Là đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, cổ vật quý hiếm đã được hồi hương về nước, nhưng chủ sở hữu không chuyển nhượng cho Nhà nước mà chuyển nhượng cho bên thứ ba thì phải thực hiện nghĩa vụ về thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
(3) Chính quyền địa phương thực hiện thí điểm mô hình đô thị di sản theo tiêu chí do Chính phủ quy định được quyết định các cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, phí, lệ phí trên địa bàn đối với hoạt động nhằm mục đích khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa.
Thời gian thực hiện thí điểm tối đa đến hết năm 2035.
(4) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm sau đây:
a) Bố trí quỹ đất cho xây dựng các công trình văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí các cấp, không gian trưng bày tác phẩm nghệ thuật tại nơi công cộng, trong đó ưu tiên cấp xã, trong quy hoạch tỉnh, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan;
b) Ưu tiên bố trí quỹ đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước được giao quản lý, trụ sở công dôi dư để thu hút các dự án đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, thể thao; cho tổ chức, cá nhân thuê trụ sở công dôi dư và công trình thuộc sở hữu nhà nước để hoạt động văn hóa, thể thao;
c) Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền thuê bất động sản khác là tài sản công đối với nhà xuất bản, cơ sở sản xuất phim tài liệu và khoa học 100% vốn nhà nước trên địa bàn theo quy định của Chính phủ.
Chính phủ quy định cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện khoản (3).