
Tiêu chí của thôn tổ dân phố sau sáp nhập theo đề xuất mới (Hình từ internet)
Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến Dự thảo Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (dự thảo ngày 19/5/2026).
Cụ thể, tiêu chí của thôn tổ dân phố được đề xuất như sau:
(1) Quy mô số hộ gia đình
- Ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng Trung du và Miền núi phía Bắc: thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên;
- Ở vùng Đồng bằng sông Hồng: thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng Bắc Trung bộ: thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, TDP phải có từ 500 hộ gia đình trở lên. Riêng các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk: thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên;
- Ở vùng Đông Nam bộ thôn phải có từ 400 hộ trở lên, Tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên;
- Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thôn phải có từ 400 hộ trở lên, TDP phải có từ 550 hộ trở lên.
(2) Quy mô số hộ gia đình đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù
Trường hợp ở địa bản biên giới, hải đảo cách xa đất liền, do việc di dân hoặc để bảo vệ đường biên giới, chủ quyền biển đảo; thôn, tổ dân phố ở các địa bàn có yếu tố đặc thù khác (ở nơi có địa hình bị chia cắt phức tạp; nằm biệt lập trên các đảo, cù lao, cồn trên sông...) thì quy mô thôn, tổ dân phố có thể thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều này. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể quy mô số hộ gia đình đối với các thôn, tổ dân phố quy định tại khoản này phù hợp với điều kiện của từng địa bàn.
(3) Các tiêu chí khác
Thôn, tổ dân phố phải có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để phục vụ hoạt động cộng đồng và bảo đảm ổn định cuộc sống của người dân.
Quy mô của thôn, tổ dân phố hiện nay được xác định cụ thể theo từng khu vực địa lý, trong đó phải đáp ứng điều kiện cụ thể về quy mô số hộ gia đình và cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Cụ thể, khoản 1 Điều 7 Thông tư 04/2012/TT-BNV (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 14/2018/TT-BNV) quy định:
(1) Quy mô số hộ gia đình:
- Đối với thôn ở xã:
+ Thôn ở xã thuộc các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có từ 150 hộ gia đình trở lên;
+ Thôn ở xã thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Hồng có từ 300 hộ gia đình trở lên;
+ Thôn ở xã thuộc các tỉnh miền Trung có từ 250 hộ gia đình trở lên;
+ Thôn ở xã thuộc các tỉnh miền Nam có từ 350 hộ gia đình trở lên;
+ Thôn ở xã thuộc các tỉnh Tây Nguyên có từ 200 hộ gia đình trở lên;
+ Thôn ở xã biên giới, xã đảo; thôn ở huyện đảo không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã có từ 100 hộ gia đình trở lên;
- Đối với tổ dân phố ở phường, thị trấn:
+ Tổ dân phố ở phường, thị trấn thuộc các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có từ 200 hộ gia đình trở lên;
+ Tổ dân phố ở phường, thị trấn thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Hồng có từ 350 hộ gia đình trở lên. Riêng thành phố Hà Nội có từ 450 hộ gia đình trở lên;
+ Tổ dân phố ở phường, thị trấn thuộc các tỉnh miền Trung có từ 300 hộ gia đình trở lên;
+ Tổ dân phố ở phường, thị trấn thuộc các tỉnh miền Nam có từ 400 hộ gia đình trở lên. Riêng thành phố Hồ Chí Minh có từ 450 hộ gia đình trở lên;
+ Tổ dân phố ở phường, thị trấn thuộc các tỉnh Tây Nguyên có từ 250 hộ gia đình trở lên;
+ Tổ dân phố ở phường, thị trấn biên giới, phường, thị trấn đảo; tổ dân phố ở huyện đảo không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã có từ 150 hộ gia đình trở lên.
(2) Các điều kiện khác:
Cần có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để phục vụ hoạt động cộng đồng và bảo đảm ổn định cuộc sống của người dân.