Bộ Tư pháp đã công bố dự thảo Luật Phát triển đô thị (tên gọi cũ là Luật Đô thị đặc biệt).
![]() |
dự thảo Luật Phát triển đô thị |
Dự thảo Luật quy định cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt. Được định hướng thiết kế theo ba tầng cơ chế phát triển, phù hợp với vai trò, tính chất và sứ mệnh khác nhau của từng loại địa bàn. Cụ thể thì các cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt được áp dụng như sau:
(1) Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố khác được công nhận là đô thị đặc biệt theo quy định của pháp luật.
Thành phố Hà Nội áp dụng quy định tại Luật Thủ đô; việc áp dụng quy định tại dự thảo Luật này cho thành phố Hà Nội do Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội quyết định, trừ quy định về khu kinh tế đặc biệt.
(2) Thành phố Đồng Nai, thành phố khác chưa được công nhận là đô thị đặc biệt (đang là đô thị loại I) được áp dụng một số cơ chế, chính sách quy định tại dự thảo Luật này theo quy định của Chính phủ trong trường hợp có chủ trương của cấp có thẩm quyền, phù hợp với điều kiện đặc thù, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng thành phố, trừ quy định tại khoản 2 Điều 7, Điều 8 và điểm a khoản 1 Điều 15 của dự thảo Luật này.
(3) Khu kinh tế đặc biệt được áp dụng một số cơ chế, chính sách thúc đẩy đô thị đặc biệt tại Chương II theo quy định của Chính phủ, trừ quy định tại khoản 2 Điều 7, Điều 8 và điểm a khoản 1 Điều 15 của dự thảo Luật này và các cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế đặc biệt theo quy định tại Chương III của dự thảo Luật này.
Trong trường hợp cần áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù chưa được quy định tại Luật này cho thành phố thuộc nhóm quy định trên hoặc cho khu kinh tế đặc biệt mà thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi ban hành và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Dự thảo Luật Phát triển đô thị sẽ gồm 05 Chương, 68 Điều, cụ thể như sau:
- Chương I. Những quy định chung (gồm 04 điều, từ Điều 1 đến Điều 4) quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc phân quyền và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền; áp dụng pháp luật.
- Chương II. Cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt (gồm 35 điều, từ Điều 5 đến Điều 39) quy định về (1) tổ chức chính quyền, chế độ công vụ và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, (2) quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị và trật tự an toàn đô thị, (3) phát triển kinh tế, (4) phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội, (5) phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, (6) nguồn lực phát triển đô thị, (7) liên kết, phát triển vùng.
- Chương III. Cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế đặc biệt (gồm 20 điều, từ Điều 40 đến Điều 59) quy định về (1) công nhận, tổ chức chính quyền tại khu kinh tế đặc biệt, (2) quy hoạch, xây dựng tại khu kinh tế đặc biệt, (3) nguồn lực phát triển khu kinh tế đặc biệt, (4) phát triển kinh tế biển, (5) khu phi thuế quan và hoạt động kinh doanh hàng miễn thuế trong khu kinh tế đặc biệt, (6) cơ chế, chính sách đặc biệt khác.
- Chương IV. Giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình (gồm 08 điều, từ Điều 60 đến Điều 67) quy định về (1) giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình đối với đô thị đặc biệt, (2) giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình đối với khu kinh tế đặc biệt, (3) xử lý vi phạm, loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý.
- Chương IX. Điều khoản thi hành (Điều 68) quy định về hiệu lực thi hành và xử lý chuyển tiếp.
Theo dự thảo Luật, đô thị đặc biệt và khu kinh tế đặc biệt được định nghĩa như sau:
Đô thị đặc biệt là đô thị tầm quốc tế, có năng lực cạnh tranh toàn cầu theo mô hình đa cực, đa trung tâm, có kết cấu hạ tầng và quản trị thông minh, hiện đại; trung tâm điều phối mô hình quản trị, hạt nhân của vùng Đô thị đặc biệt; cực đổi mới sáng tạo và hội nhập quan trọng của cả nước.
Đô thị đặc biệt có vai trò dẫn đầu về kiến tạo thể chế, chất lượng phát triển, chuẩn mực quản trị và mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh.
Khu kinh tế đặc biệt là đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có vị trí chiến lược được tổ chức theo mô hình đặc thù và áp dụng các cơ chế, chính sách vượt trội để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng và cả nước được Chính phủ quyết định thành lập sau khi có ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xem thêm tại dự thảo Luật Phát triển đô thị.

Đổi tên dự án Luật Đô thị đặc biệt thành Luật Phát triển đô thị (Hình từ internet)
|
TT |
Tên thành phố (Tỉnh, thành cũ) |
Năm thành lập |
Diện tích (km2) |
Dân số (người) |
Quy mô kinh tế GRDP (tỷ đồng) |
|
1 |
TP. Hà Nội |
1945 |
3.359,84 |
8.807.523 |
1.587.379 |
|
2 |
TP. Hồ Chí Minh (Bình Dương + TPHCM + Bà Rịa - Vũng Tàu) |
1976 |
6.772,6 |
14.002.598 |
2.972.939 |
|
3 |
TP. Hải Phòng (Hải Dương + TP. Hải Phòng) |
1976 |
3.194,7 |
4.664.124 |
734.420 |
|
4 |
TP. Đà Nẵng (Quảng Nam + TP. Đà Nẵng) |
1997 |
11.859,6 |
3.065.628 |
316.100 |
|
5 |
TP. Cần Thơ (Sóc Trăng + Hậu Giang + TP. Cần Thơ) |
2004 |
6.360,8 |
4.199.824 |
306.170 |
|
6 |
TP. Huế |
2025 |
4.947,11 |
1.432.986 |
89.591 |
|
7 |
TP. Đồng Nai (Đồng Nai + Bình Phước) |
2026 |
12.737,2 |
4.491.408 |
677.932 |