[1] Thẩm quyền thành lập Tổ bảo vệ tại Tòa án được xác định như sau:
- Chánh Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập Tổ bảo vệ tại Tòa án nhân dân tối cao;
- Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao được giao quản lý trụ sở, cơ sở vật chất quyết định thành lập Tổ bảo vệ tại đơn vị nơi được giao nhiệm vụ quản lý;
- Chánh án Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế (sau đây gọi là Tòa án chuyên biệt) quyết định thành lập Tổ bảo vệ tại Tòa án chuyên biệt;
- Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Tổ bảo vệ tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
- Chánh án Tòa án nhân dân khu vực quyết định thành lập Tổ bảo vệ tại Tòa án nhân dân khu vực;
- Thủ trưởng cơ quan báo chí, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành lập Tổ bảo vệ tại đơn vị nơi mình quản lý.
[2] Số lượng thành viên Tổ bảo vệ và thẩm quyền ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tại Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.
[3] Nhân viên bảo vệ tại Tòa án phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:
- Là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Có lý lịch rõ ràng, phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
- Có trình độ học vấn tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên (đối với miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa có trình độ học vấn hoàn thành chương trình giáo dục bậc trung học cơ sở trở lên). Ưu tiên tuyển dụng nhân viên bảo vệ là người đã có thời gian công tác trong lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân;
- Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và đủ sức khỏe đáp ứng yêu cầu công tác bảo vệ.
Xem chi tiết tại Thông tư 11/2026/TT-TANDTC có hiệu lực từ ngày 15/7/2026.