Công văn hướng dẫn cấp sổ đỏ đối với diện tích tăng thêm (Công văn 1110/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ)

Tham vấn bởi Luật sư Nguyễn Thụy Hân
08/04/2026 16:50 PM

Bộ Nông nghiệp và Môi trường có Công văn hướng dẫn cấp sổ đỏ đối với diện tích tăng thêm (Công văn 1110/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ).

Công văn hướng dẫn cấp sổ đỏ đối với diện tích tăng thêm (Công văn 1110/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ)

Công văn hướng dẫn cấp sổ đỏ đối với diện tích tăng thêm (Công văn 1110/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ)

TẢI VỀ

Công văn hướng dẫn cấp sổ đỏ đối với diện tích tăng thêm (Công văn 1110/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ)

Theo Công văn 1110/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ ngày 7/4/2026, Cục Quản lý đất đai nhận được phản ánh tại hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Luật Đất đai năm 2024, với các nội dung như sau:

“Căn cứ khoản 6, Điều 12, Nghị định 49/2026 của Chính phủ quy định:

6. Bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 24 như sau: “4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đối với một phần diện tích của thửa đất, phần diện tích còn lại chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận trước đây mà nay đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.”.

Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây có 1 phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận (do không phù hợp quy hoạch...) trên sơ đồ thửa đất đã thể hiện rõ kích thước, khuôn viên sử dụng và được gạch sọc ghi chú rõ phần đất không công nhận hoặc chưa được công nhận. Hiện nay các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thực hiện biến động sang tên chủ sử dụng khác (thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng...) Thì các chủ sử dụng nhận chuyển nhượng sau này có được căn cứ điều khoản quy định nêu trên để xin cấp giấy chứng nhận đối với phần đất chưa được công nhận không? Nếu được công nhận thì xin bộ hướng dẫn rõ điều khoản nào áp dụng công nhận đối với trường hợp này, trình tự thủ tục được quy định cụ thể ra sao. Đồng thời việc tính thuế sử dụng đất được xác định theo hồ sơ cấp giấy gốc ban đầu, hay tính thời điểm từ lúc chủ sử dụng cuối cùng nhận chuyển nhượng để tính thuế (xin hướng dẫn rõ điều khoản luật, nghị định). Ngoài ra khi thực hiện cấp giấy chứng nhận, cấp đổi giấy chứng nhận nếu hiện trạng có thay đổi khác so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có công trình xây dựng trên đất, không bị xử phạt...) Thì có cần phải xác minh có ý kiến tồn tại đối với công trình xây dựng đó hay không? Xin chân thành cảm ơn.”.

Cục Quản lý đất đai có ý kiến như sau:

1. Về việc giải quyết đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đối với một phần diện tích của thửa đất, phần diện tích còn lại chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận trước đây

Tại khoản 4 Điều 24 Nghị định 101/2024/NĐ-CP, được bổ sung tại khoản 6 Điều 12 Nghị định 49/2026/NĐ-CP đã quy định: “4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đối với một phần diện tích của thửa đất, phần diện tích còn lại chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận trước đây mà nay đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.”.

Nội dung phản ánh, kiến nghị liên quan đến vụ việc cụ thể và cần căn cứ theo diện tích đất thể hiện trong văn bản về việc chuyển quyền sử dụng đất là phần diện tích được cấp Giấy chứng nhận hay toàn bộ diện tích thửa đất (bao gồm cả phần diện tích chưa được cấp Giấy chứng nhận) để xem xét, giải quyết. Về trình tự, thủ tục được thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định 49/2026/NĐ-CP; thời điểm tính tiền sử dụng đất đối với trường hợp công nhận quyền sử dụng đất là thời điểm người sử dụng đất nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định của pháp luật theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 155 Luật Đất đai.

2. Về việc sử dụng đất không đúng với mục đích đã được cấp Giấy chứng nhận

Tại khoản 1 và khoản 3 Điều 121 Luật Đất đai đã quy định các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép cơ cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Căn cứ theo quy định nêu trên, nếu việc sử dụng đất không đúng với mục đích đã được cấp Giấy chứng nhận mà thuộc trường hợp phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì xem xét, giải quyết đối với trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai, Điều 25 Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024, Nghị định 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ; trường hợp việc sử dụng đất không đúng với mục đích đã được cấp Giấy chứng nhận mà thuộc trường hợp không phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu người sử dụng đất có nhu cầu thì thực hiện thủ tục đăng ký biến động theo quy định tại e khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai.

Xem thêm tại Công văn 1110/QLĐĐ-ĐĐĐKĐĐ ngày 7/4/2026.

Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@thuvienphapluat.vn.

Gởi câu hỏi Chia sẻ bài viết lên facebook 2,838

Bài viết về

lĩnh vực Đất đai

Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn