Chính sách mới 09/06/2026 16:00 PM

Chi tiết phân bố mạng lưới cơ sở y tế đến năm 2030 (Quyết định 1658/QĐ-BYT)

Tham vấn bởi Luật sư Phạm Thanh Hữu
09/06/2026 16:00 PM

Mới đây, Bộ trưởng Bộ Y tế đã quy định về phân bố mạng lưới cơ sở y tế đến năm 2030.

Chi tiết phân bố mạng lưới cơ sở y tế đến năm 2030 (Quyết định 1658/QĐ-BYT)

Chi tiết phân bố mạng lưới cơ sở y tế đến năm 2030 (Quyết định 1658/QĐ-BYT) (Hình từ Internet)

Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định 1658/QĐ-BYT ngày 08/6/2026 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Quyết định 1658/QĐ-BYT

Chi tiết phân bố mạng lưới cơ sở y tế đến năm 2030 (Quyết định 1658/QĐ-BYT)

Theo đó, Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc phân bố mạng lưới cơ sở y tế đến năm 2030 như sau:

* Lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng

- Tiếp tục đầu tư, nâng cấp 06 bệnh viện: Bệnh viện Bạch Mai; Bệnh viện Chợ Rẫy; Bệnh viện Trung ương Huế; Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Bệnh viện Quân y 175 là bệnh viện cấp chuyên sâu mức kỹ thuật cao, đạt được chứng nhận chất lượng cấp quốc tế để trở thành bệnh viện hiện đại ngang tầm một số nước phát triển trong khu vực.

- Đầu tư phát triển một số bệnh viện đa khoa cấp chuyên sâu mức kỹ thuật cao, đảm bảo mỗi vùng có ít nhất một bệnh viện đa khoa đạt cấp chuyên sâu mức kỹ thuật cao, cụ thể:

+ Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.

+ Vùng Đồng bằng sông Hồng: Bệnh viện Bạch Mai.

+ Vùng Bắc Trung Bộ: Bệnh viện Trung ương Huế.

+ Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây nguyên: Bệnh viện Đà Nẵng; Bệnh viện Khánh Hòa.

+ Vùng Đông Nam Bộ: Bệnh viện Chợ Rẫy.

+ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Bệnh viện Trung ương Cần Thơ.

- Đầu tư xây mới, nâng cấp và phát triển một số bệnh viện y học cổ truyền thành bệnh viện chuyên sâu về y học cổ truyền tại khu vực phía Bắc và phía Nam.

- Quy hoạch một số bệnh viện đa khoa cấp tỉnh đảm nhận chức năng vùng nhằm tăng cường khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế chuyên sâu cho người dân tại từng vùng; có nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật cho các cơ sở y tế trong vùng, đảm nhận vai trò ứng phó cấp vùng khi có dịch bệnh, thảm họa (17 bệnh viện), cụ thể như sau:

+ Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ; Bệnh viện đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai; Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La.

+ Vùng Đồng bằng sông Hồng: Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp; Bệnh viện Thanh Nhàn, Bệnh viện Xanh Pôn; Bệnh viện đa khoa Bắc Ninh số 1; Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí.

+ Vùng Bắc Trung Bộ: Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An.

+ Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Bệnh viện Đà Nẵng; Bệnh viện đa khoa Khánh Hòa; Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Gia Lai; Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên.

+ Vùng Đông Nam Bộ: Bệnh viện Nhân dân Gia Định; Bệnh viện Nhân dân 115, thành phố Hồ Chí Minh.

+ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Bệnh viện đa khoa Kiên Giang; Bệnh viện đa khoa Tiền Giang.

- Quy hoạch một số bệnh viện chuyên khoa cấp tỉnh đảm nhận chức năng vùng, đối với những vùng chưa có hoặc khó khả thi trong việc phát triển bệnh viện chuyên khoa, ưu tiên phát triển các trung tâm chuyên khoa trong bệnh viện đa khoa cấp tỉnh, cụ thể như sau:

+ Chuyên khoa ung bướu (06 bệnh viện): Bệnh viện Ung bướu Hà Nội; Bệnh viện Ung bướu Nghệ An; Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng; Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh; Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ; xây dựng mới Bệnh viện Ung bướu Phú Thọ.

+ Chuyên khoa sản/sản nhi (10 bệnh viện): Bệnh viện Sản Nhi Phú Thọ; Bệnh viện Phụ sản Hà Nội; Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng; Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An; Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng; Bệnh viện Từ Dũ; Bệnh viện Nhi đồng 1; Bệnh viện Nhi đồng 2; Bệnh viện Phụ sản Cần Thơ; Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ.

+ Chuyên khoa tim mạch (03 bệnh viện): Bệnh viện Tim Hà Nội; Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh; Bệnh viện Tim mạch Cần Thơ.

+ Chuyên khoa y học cổ truyền (03 bệnh viện): Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An; Bệnh viện Y học cổ truyền Đà Nẵng; Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Chuyên khoa phục hồi chức năng (05 bệnh viện): Bệnh viện Phục hồi chức năng Hương Sen Tuyên Quang; Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Nội; Bệnh viện Phục hồi chức năng Hà Tĩnh; Bệnh viện Phục hồi chức năng Lâm Đồng; Bệnh viện Phục hồi chức năng và điều trị bệnh nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Chuyên khoa truyền nhiễm - nhiệt đới (02 bệnh viện): Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Khánh Hòa; Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Lĩnh vực huyết học và truyền máu: Đầu tư phát triển 10 trung tâm máu khu vực/vùng gắn với các bệnh viện đa khoa tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Nghệ An, Thành phố Huế, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và An Giang.

+ Lĩnh vực ghép bộ phận cơ thể người (03 trung tâm): Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người tại Hà Nội; Trung tâm điều phối khu vực miền Trung về ghép bộ phận cơ thể người tại Bệnh viện Trung ương Huế; Trung tâm điều phối khu vực miền Nam về ghép bộ phận cơ thể người tại Bệnh viện Chợ Rẫy.

- Đối với hệ thống bệnh viện lão khoa: Đầu tư mở rộng và phát triển một số bệnh viện lão khoa thực hiện hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật, nghiên cứu, đào tạo, nâng cao năng lực cho các bệnh viện lão khoa và khoa lão trong bệnh viện đa khoa: Bệnh viện Lão khoa Trung ương; Bệnh viện C Đà Nẵng; Bệnh viện Thống Nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bệnh viện Lão khoa vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại Cần Thơ.

- Đầu tư phát triển các bệnh viện trường đại học đủ năng lực cung cấp các dịch vụ y tế thuộc cấp chuyên môn kỹ thuật chuyên sâu, thực hiện nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ trong lĩnh vực y tế và đào tạo nguồn nhân lực y tế chất lượng cao: Bệnh viện Trường đại học Y dược Thái Nguyên; Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia; Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng; Bệnh viện Đại học Y Thái Bình; Phân hiệu Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tại Thanh Hóa; Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế; Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh; Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ.

- Quy hoạch hệ thống cấp cứu ngoại viện: Phát triển hệ thống tổng đài quốc gia, thống nhất quản lý và điều phối hệ thống cấp cứu ngoại viện trên phạm vi toàn quốc. Hình thành một số trung tâm cấp cứu 115 hoàn chỉnh tại 6 vùng kinh tế - xã hội gắn với các bệnh viện cấp chuyên sâu để đảm bảo xử lý cấp cứu kịp thời đối với các trường hợp khẩn cấp, bệnh nặng, yêu cầu kỹ thuật xử lý phức tạp: Thái Nguyên, Hà Nội, Huế, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ.

- Y tế biển, đảo: Nâng cấp các cơ sở y tế phù hợp với định hướng của Chương trình phát triển y tế biển, đảo, trong đó có một số bệnh viện của Bộ Quốc phòng.

- Tích hợp hệ thống bệnh viện trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ, ngành khác sau khi thực hiện chuyển một số bệnh viện thuộc các bộ, ngành về Bộ Y tế quản lý và thực hiện sắp xếp lại tổ chức hoạt động cho phù hợp với yêu cầu mới.

* Lĩnh vực y tế dự phòng, y tế công cộng

- Tiếp tục đầu tư phát triển các viện chuyên ngành do Bộ Y tế quản lý có đủ năng lực thực hiện tham mưu hỗ trợ và chỉ đạo chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ trong phòng, chống dịch, bệnh truyền nhiễm; bệnh không lây nhiễm; kiểm soát các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe trên phạm vi cả nước.

- Đầu tư phát triển phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp 3 cho viện vệ sinh dịch tễ/Pasteur khu vực miền Trung.

* Lĩnh vực kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm chuẩn

- Phát triển hệ thống phòng thí nghiệm tham chiếu gắn với các viện chuyên ngành quốc gia. Nâng cấp 02 trung tâm quốc gia về đánh giá tương đương sinh học đạt chuẩn quốc tế.

- Phát triển 02 Trung tâm Kiểm nghiệm an toàn thực phẩm thuộc Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia tại Khánh Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh.

- Phát triển trung tâm kiểm định và hiệu chuẩn thiết bị y tế quốc gia thuộc viện chuyên ngành quốc gia về thiết bị y tế. Nâng cấp, phát triển các trung tâm kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm y học để đảm nhận chức năng vùng. Hình thành 01 Trung tâm kiểm chuẩn chất lượng tại khu vực miền Trung thuộc Trường Đại học Y Dược Huế.

- Hình thành đơn vị quốc gia về chuyển giao công nghệ vắc xin tại Hà Nội nhằm thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ trong sản xuất vắc xin và sinh phẩm y tế trên phạm vi toàn quốc.

- Phát triển các trung tâm thử nghiệm lâm sàng hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế, nghiên cứu sinh khả dụng và đánh giá tương đương sinh học của thuốc (BA/BE); phòng thí nghiệm chuyên ngành để nghiên cứu phát triển thuốc.

- Tập trung đầu tư nâng cao năng lực các trung tâm kiểm nghiệm tuyến tỉnh đạt tiêu chuẩn GLP, đáp ứng yêu cầu kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm chuẩn về thuốc, nguyên liệu làm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm, vắc xin và sinh phẩm y tế, thiết bị y tế và các sản phẩm khác thuộc phạm vi Bộ Y tế quản lý.

* Lĩnh vực giám định y khoa, giám định pháp y và giám định pháp y tâm thần

- Nâng cao năng lực và cơ sở vật chất của các đơn vị giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần hiện có.

- Xây dựng mới 01 cơ sở giám định pháp y khu vực tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Xây dựng mới 02 cơ sở giám định pháp y tâm thần khu vực tại Nghệ An và Thành phố Hồ Chí Minh.

* Lĩnh vực dân số - sức khỏe sinh sản 

- Phát triển các dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu về hỗ trợ sinh sản, tầm soát, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh, tật trước sinh, sơ sinh gắn với các bệnh viện chuyên khoa sản/sản - nhi, bệnh viện có chuyên khoa sản/sản - nhi.

- Phát triển 06 trung tâm sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh khu vực hiện có tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương; Bệnh viện Nhi Trung ương; Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An; Bệnh viện Đại học Y Dược Huế; Bệnh viện Từ Dũ; Bệnh viện Phụ sản Cần Thơ. Hình thành 02 trung tâm sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh cấp vùng tại Bệnh viện A Thái Nguyên, Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên.

- Phát triển một số bệnh viện lão khoa thực hiện hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật, nghiên cứu, đào tạo nhằm nâng cao năng lực hệ thống lão khoa. Mở rộng hệ thống bệnh viện lão khoa đảm bảo mỗi tỉnh, thành phố có bệnh viện lão khoa hoặc bệnh viện đa khoa có chuyên khoa lão khoa để đáp ứng nhu cầu chăm sóc của người cao tuổi.

* Định hướng mạng lưới cơ sở y tế cấp địa phương

- Phát triển bệnh viện đa khoa cấp tỉnh hoàn chỉnh trước khi thành lập mới bệnh viện chuyên khoa tại các địa phương, bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất một bệnh viện đạt cấp chuyên sâu.

- Phát triển mạng lưới hệ thống cấp cứu ngoại viện tại 100% các tỉnh, thành phố, bảo đảm người dân được tiếp cận kịp thời với các dịch vụ cấp cứu trước khi đến bệnh viện. Hoàn thiện và hiện đại hóa 100% các cơ sở cấp cứu ngoại viện theo quy định; nâng cao chất lượng hạ tầng, thiết bị và phương tiện vận hành hiệu quả hệ thống cấp cứu ngoại viện; trang bị phương tiện cấp cứu đạt chuẩn, được bố trí phân bổ hợp lý theo vùng địa lý và mật độ dân cư.

- Nâng cấp, xây dựng mới các đơn vị phòng bệnh cấp tỉnh theo hướng quy hoạch tập trung các đơn vị chuyên ngành y tế dự phòng vào cùng một địa điểm.

- Sắp xếp các đơn vị kiểm nghiệm cấp tỉnh làm nhiệm vụ phân tích, kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm chuẩn chuyên ngành y tế theo hướng thu gọn đầu mối, tập trung tại một địa điểm.

- Kiện toàn bộ máy, tổ chức hệ thống trạm y tế cấp xã, đảm bảo 100% trạm y tế cấp xã được đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị y tế, nhân lực theo chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Bộ Y tế.

- Phát triển mạng lưới cơ sở y tế lực lượng vũ trang phù hợp với tổ chức và yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Xem thêm tại Quyết định 1658/QĐ-BYT có hiệu lực thi hành từ ngày 08/6/2026 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

 

Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info@thuvienphapluat.vn.

Gởi câu hỏi Chia sẻ bài viết lên facebook 247

Bài viết về

lĩnh vực Y tế

Chính sách khác

Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, P.6, Q.3, TP.HCM
Điện thoại: (028) 3930 3279 (06 lines)
E-mail: info@ThuVienPhapLuat.vn