
Công văn 1829 phản hồi về quyền tiếp cận thông tin đất đai của người dân (Hình từ văn bản)
Ngày 12/5/2026, Cục Quản lý đất đai đã ban hành Công văn 1829/QLDD-TKKKTTĐĐ về việc phản ánh kiến nghị trên Hệ thống thông tin của Bộ Tư pháp liên quan đến quyền tiếp cận thông tin đất đai.
![]() |
Công văn 1829/QLDD-TKKKTTĐĐ năm 2026 |
Theo đó, sau khi Cục Quản lý đất đai được Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao nghiên cứu, trả lời phản ánh kiến nghị của ông Dương Đức Đạt với nội dung sau:
“Theo khoản 1, điều 24. Quyền tiếp cận thông tin đất đai, Luật Đất Đai 2024, “i) Các thông tin đất đai khác theo quy định của pháp luật"
“1. Công dân được tiếp cận các thông tin đất đai sau đây: a) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các quy hoạch có liên quan đến sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt; b) Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai; c) Giao đất, cho thuê đất; d) Bảng giá đất đã được công bố; đ) Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; g) Thủ tục hành chính về đất đai; h) Văn bản quy phạm pháp luật về đất đai; i) Các thông tin đất đai khác theo quy định của pháp luật."
Theo khoản 2, Điều 6, Luật Tiếp Cận Thông Tin 2016, Thông tin công dân không được tiếp cận có "thông tin về cuộc họp nội bộ của cơ quan nhà nước; tài liệu do cơ quan nhà nước soạn thảo cho công việc nội bộ".
Tuy nhiên, có trường hợp thực tiễn như sau: Khi công dân đề nghị UBND Phường cung cấp thông tin lấy ý kiến hoặc phiếu lấy ý kiến khu dân cư đối với hồ sơ kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của công dân thì UBND Phường không cung cấp với lý do là thông tin, tài liệu do cơ quan nhà nước soạn tháo cho công việc nội bộ theo khoản 2, Điều 6, Luật Tiếp Cận Thông Tin 2016 là thông tin công dân không được tiếp cận.
Vậy, hai quy định trên có phải là đang có vướng mắc, chồng chéo, mâu thuẫn với nhau không?
Và thông tin lấy ý kiến khu dân cư hoặc phiếu lấy ý kiến khu dân cư đối với hồ sơ kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của công dân có phải thuộc thông tin không được tiếp cận theo quy định tại điều 24. Quyền tiếp cận thông tin đất đai của Luật Đất Đai 2024 hay không?
Về nội dung kiến nghị, Cục Quản lý đất đai đã có Công văn 1829/QLDD-TKKKTTĐĐ năm 2026 phản hồi kiến nghị liên quan đến quyền tiếp cận thông tin đất đai như sau:
- Theo quy định Luật Đất đai 2024, việc quản lý, khai thác và cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai phải bảo đảm tính công khai, minh bạch và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người sử dụng đất và tổ chức, cá nhân có liên quan.
- Theo quy định tại Điều 59 và Điều 60 Nghị định 101/2024/NĐ-CP:
+ Tổ chức, cá nhân có quyền khai thác và sử dụng thông tin, dữ liệu đất đai thông qua hình thức trực tiếp hoặc gửi yêu cầu đến cơ quan quản lý đất đai;
+ Người có nhu cầu được quyền đề nghị cung cấp thông tin, dữ liệu thuộc hồ sơ địa chính, hồ sơ đăng ký đất đai theo trình tự, thủ tục quy định.
+ Trường hợp phiếu lấy ý kiến khu dân cư, biên bản họp khu dân cư hoặc tài liệu xác minh nguồn gốc sử dụng đất được lưu giữ trong hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đây là tài liệu thuộc hồ sơ quản lý đất đai do cơ quan nhà nước quản lý.
Do đó: Người có quyền, lợi ích liên quan đến thửa đất có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét cung cấp hoặc cho tiếp cận thông tin theo quy định pháp luật; Việc cung cấp thông tin được thực hiện trên cơ sở hồ sơ yêu cầu hợp lệ và không thuộc các trường hợp từ chối cung cấp thông tin theo Điều 61 Nghị định 101/2024/NĐ-CP.
Đối với trường hợp của Quý Công dân do không có hồ sơ cụ thể nên chúng tôi không có căn cứ trả lời chính xác, đề nghị Ông liên hệ với Sở Nông nghiệp môi trường tại địa phương để được hướng dẫn thực hiện thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai theo quy định. Cục Quản lý đất đai xin được thông tin thêm để Quý Công dân được biết để thực hiện theo quy định của pháp luật.
Trên đây là ý kiến của Cục Quản lý đất đai, trân trọng cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, đồng hành của Ông trong lĩnh vực đất đai.
Theo quy định tại Điều 61 Nghị định 101/2024/NĐ-CP thì những trường hợp không cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai bao gồm:
- Thông tin, dữ liệu đất đai thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật. Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin và quy định của Nghị định này.
- Những thông tin, dữ liệu đất đai gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, quan hệ quốc tế, trật tự, an toàn xã hội mà pháp luật quy định.
- Thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất mà chưa được sự đồng ý của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đó, trừ trường hợp phục vụ hoạt động điều tra, thi hành án dân sự, xác minh xử lý hành vi vi phạm pháp luật và phục vụ công tác quản lý nhà nước của cơ quan có thẩm quyền.
- Văn bản, phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu không hợp lệ theo quy định.
- Tổ chức, cá nhân yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai nhưng không thực hiện nộp phí khai thác, sử dụng tài liệu đất đai hoặc giá sản phẩm, dịch vụ gia tăng sử dụng thông tin từ cơ sở dữ liệu, Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai theo quy định.
Xem thêm tại Công văn 1829/QLDD-TKKKTTĐĐ ban hành ngày 13/5/2026.