Ngày 25/3/2026, Cục Quản lý đất đai có Công văn 858/QLĐĐ-KTPTQĐ trả lời kiến nghị “Về việc làm rõ các quy định tại Điều 111 Luật Đất đai năm 2024 đặc biệt khoản 4 Điều 111 Luật đất đai 2024".
Dựa trên phản hồi nội dung: “Diện tích đất ở được bồi thường không phải là diện tích đất ở bị thu hồi”, tôi kính đề nghị Quý Cục giải đáp các vấn đề sau để thống nhất việc áp dụng pháp luật:
1. Về căn cứ pháp lý cụ thể: • "Diện tích đất ở được bồi thường”: Căn cứ vào quy định cụ thể nào để xác định diện tích này? Nếu diện tích này thấp hơn diện tích đất ở thực tế bị thu hồi (ví dụ thu hồi 300m² đất ở nhưng chỉ bồi thường bằng đất ở là 125m²), thì phần diện tích chênh lệch còn lại được định danh pháp lý là gì và xử lý ra sao để đảm bảo quyền lợi, tính công bằng cho dân? • Tiêu chuẩn “không đủ để giao riêng”: Căn cứ vào quy định hay định mức nào để xác định việc “không đủ để giao riêng”? Trường hợp diện tích đất ở bị thu hồi vốn đã đủ để chia suất theo hạn mức tối thiểu của địa phương thì các hộ gia đình có được mặc nhiên xác định là “Hộ gia đình không thiếu hay còn gọi là HỘ ĐỦ" để hưởng quyền bồi thường về bố trí tái định cư không? • Về Khoản 10 Điều 111 Luật Đất đai 2024: Có phải thẩm quyền của UBND tỉnh chỉ được giao quy định hỗ trợ đối với trường hợp “Hộ gia đình còn thiếu", còn đối với “HỘ ĐỦ" thì phải thực hiện theo quy định chung của Luật, đúng hay không?
2. Về thực tiễn áp dụng Khoản 4 Điều 111: Hiện nay, việc hiểu và áp dụng quy định này đang không thống nhất. Ví dụ: Thửa đất 1.000m² (300m² đất ở nông thôn và 700m² đất trồng cây lâu năm, số đỏ cấp cho vợ chồng ông A + bà B từ 1999, ông A và bà B có 2 người con ruột đã lập gia đình) bị thu hồi toàn bộ. Trên đất có 03 hộ gia đình sinh sống ổn định trong 03 căn nhà riêng biệt, mỗi căn 100m² từ năm 2009 (có Biên bản phân định diện tích 100m² đất ở cho mỗi hộ gia đình, đầy đủ chữ ký các thành viên), cả 3 hộ gia đình không còn bất kỳ nhà đất nào khác tại địa phương. Phương án bồi thường hiện chỉ giao 01 suất tái định cư 125m² có thu tiền sử dụng đất cho ông A và bà B, không xem xét cho 02 hộ gia đình 2 người con ruột của ông A và bà B.
Kính đề nghị Quý Cục xác định cách áp dụng nào sau đây đúng quy định của Khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024:
Trường hợp 1 (Bồi thường theo thực tế sử dụng): Vì diện tích bị thu hồi có 300m² đất ở nông thôn, căn cứ thực tế 03 gia đình đã xây nhà cấp 4 ổn định và hạn mức tối thiểu địa phương cho đất ở nông thôn là 80m²/hộ. Do đó, cả 03 hộ đều là “HỘ ĐỦ" và đủ diện tích để giao riêng 03 suất tái định cư độc lập.
Trường hợp 2 (Áp đặt hạn mức để tạo hộ thiếu): Cơ quan bồi thường chỉ phê duyệt 01 suất 125m², sau đó cho rằng diện tích này không đủ để chia cho 03 hộ nên xác định 02 hộ còn lại là "HỘ GIA ĐÌNH CÒN THIẾU”. Cách này bỏ qua 175m² đất ở và 700m² đất nông nghiệp còn lại của dân. (vi phạm nguyên tắc công bằng, minh bạch, đảm bảo ổn định cuộc sống cho dân)
Trường hợp 3 (Cộng dồn quỹ đất): Tổng diện tích bồi thường gồm 300m² đất ở và phần đất nông nghiệp quy đổi tỷ lệ, đủ để bố trí tái định cư cho tất cả các hộ theo diện “HỘ ĐỦ" và giao riêng 03 suất tái định cư độc lập.
Trường hợp 4 (Từ chối xác định): Vì Luật không quy định cơ sở xác định nên mặc nhiên coi tất cả các hộ gia đình thành viên là "HỘ GIA ĐÌNH CÒN THIẾU".
Kính đề nghị Cục Quản lý đất đai làm rõ các căn cứ nêu trên nhằm tránh việc địa phương tùy nghỉ áp dụng, gây thiệt thòi cho những gia đình vốn có đủ đất ở để sinh sống ổn định nhưng nay bỗng chốc trở thành "Hộ gia đình còn thiếu", vô gia cư, chờ xem xét hoặc khiếu nại kéo dài. Rất mong Quý Cục trả lời trực tiếp vào 04 vấn để chính đã được nêu câu hỏi ở trên về (1) căn cứ xác định Diện tích đất ở được bồi thường (2) Căn cứ về tiêu chuẩn "không đủ để giao riêng" (3) Khoản 10 Điều 111 (4) Trường hợp nào áp dụng đúng khoản 4 Điều 111; Trân trọng cảm ơn!"
Sau khi nghiên cứu nội dung phản ánh, kiến nghị, Cục Quản lý đất đai có ý kiến như sau:
- Tại khoản 1 Điều 98 Luật Đất đai 2024 quy định:
“Điều 98. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
1. Hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 95 của Luật này thì được bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng tiền hoặc bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi."
- Tại khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024 quy định:
“Điều 111. Bố trí tái định cư
4. Hộ gia đình, cá nhân có đất ở, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường về đất ở theo quy định tại Điều 95 của Luật này thì được bồi thường bằng giao đất ở hoặc nhà ở tại khu tái định cư hoặc tại địa điểm khác phù hợp.
Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ hoặc có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 01 thửa đất ở bị thu hồi mà diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình thì được xem xét hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho các hộ gia đình còn thiếu."
- Tại khoản 2 Điều 11 Nghị định 88/2024/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 226/2025/NĐ-CP) quy định:
“Điều 11. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 98 của Luật Đất đai
2. Hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở đủ điều kiện được bồi thường về đất thì thực hiện như sau:
a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thửa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư;
b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại của thừa đất sau khi thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về diện tích tối thiểu tại khoản 2 Điều 220 của Luật Đất đai mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trên địa bàn cấp xã nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc bằng nhà ở hoặc bằng đất khác nếu địa phương có điều kiện về quỹ đất, quỹ nhà ở."
Theo quy định tại khoản 10 Điều 111 Luật Đất đai 2024 thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình hình thực tế tại địa phương quy định chi tiết về suất tái định cư tối thiểu quy định tại khoản 8 Điều 111 Luật Đất đai 2024; quyết định việc hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sửdụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở cho các hộ gia đình còn thiếu theo quy định tại khoản 4 Điều 111 Luật Đất đai 2024.
Hiện nay, về trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất đã được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 14, Điều 15 Nghị định 49/2026/NĐ-CP.
Đề nghị Quý Công dân nghiên cứu các quy định nêu trên và liên hệ với cơ quan có chức năng quản lý đất đai tại địa phương để được xem xét, hướng dẫn.
Thu hồi đất là gì?
Nhà nước thu hồi đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hoặc thu lại đất của người đang sử dụng đất hoặc thu lại đất đang được Nhà nước giao quản lý. (Điều 3 Luật Đất đai 2024)