Nghị quyết 13/2026/NQ-HĐND quy định mức phụ cấp chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; số lượng, chức danh, mức hỗ trợ đối với các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố; việc kiêm nhiệm chức danh và mức phụ cấp, hỗ trợ kiêm nhiệm chức danh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 13/2026/NQ-HĐND quy định 08 chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố gồm:
Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 13/2026/NQ-HĐND quy định mức hỗ trợ hằng tháng đối với các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố như sau:
a) Đối với thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn đặc biệt khó khăn mức hỗ trợ 0,3 (lần mức lương cơ sở/chức danh/tháng).
b) Đối với thôn, tổ dân phố còn lại, mức hỗ trợ 0,25 (lần mức lương cơ sở/chức danh/tháng).
Với mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng/tháng, mức hỗ trợ tương ứng là:
0,3 x 2,53 triệu đồng = 759.000 đồng/tháng;
0,25 x 2,53 triệu đồng = 632.500 đồng/tháng.
Do đó, tùy thuộc địa bàn, người giữ một trong 08 chức danh tham gia hoạt động tại thôn, tổ dân phố ở Phú Thọ được hỗ trợ 759.000 đồng/tháng hoặc 632.500 đồng/tháng.
Nghị quyết 13/2026/NQ-HĐND có hiệu lực từ khi nào?
Nghị quyết 13/2026/NQ-HĐND được HĐND tỉnh Phú Thọ ban hành ngày 30/6/2026 và có hiệu lực từ ngày 10/7/2026.
Nghị quyết quy định đồng thời về mức phụ cấp của người hoạt động không chuyên trách, số lượng và mức hỗ trợ của các chức danh tham gia hoạt động, cũng như việc kiêm nhiệm và mức phụ cấp, hỗ trợ kiêm nhiệm tại thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh.
Nghị quyết 13/2026/NQ-HĐND cũng làm hết hiệu lực một số nghị quyết trước đây của Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình về các chế độ đối với người hoạt động, người trực tiếp tham gia hoạt động tại thôn, tổ dân phố.
Điều 15 Nghị định 185/2026 quy định khoán quỹ phụ cấp đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố như sau:
1. Ngân sách nhà nước khoán quỹ phụ cấp (bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội) để chi phụ cấp hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố như sau:
a) Đối với thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã ở khu vực biên giới, hải đảo, thôn đặc biệt khó khăn được khoán quỹ phụ cấp bằng 8,0 lần mức lương cơ sở;
b) Đối với thôn, tổ dân phố không thuộc quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được khoán quỹ phụ cấp bằng 6,5 lần mức lương cơ sở.
2. Căn cứ vào quỹ phụ cấp được ngân sách nhà nước khoán cho mỗi thôn, tổ dân phố quy định tại khoản 1 Điều này; khả năng cân đối của ngân sách địa phương; quy định của pháp luật có liên quan và đặc thù của các thôn, tổ dân phố trên địa bàn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định cụ thể những nội dung sau:
a) Mức phụ cấp của từng chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố;
b) Việc kiêm nhiệm chức danh và mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh người hoạt động không chuyên trách, mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố;
c) Số lượng, chức danh và mức hỗ trợ đối với các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố.
3. Trường hợp tỉnh, thành phố sử dụng ngân sách địa phương để quy định mức khoán quỹ phụ cấp cao hơn mức khoán của ngân sách nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này thì Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quyết định mức khoán cụ thể phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách địa phương và không phải xin ý kiến các bộ, cơ quan trung ương.